Pages

Ads 468x60px

Featured Posts

Sunday, 22 April 2018

Hà Nội cảnh báo ngập úng và chỉ đường qua điện thoại thông minh

Người dân Hà Nội được sử dụng miễn phí ứng dụng cảnh báo ngập úng, gợi ý chỉ đường, thông tin mực nước... qua điện thoại thông minh.
Ngày 20/4, thông tin về công tác thoát nước mùa mưa năm 2018, ông Võ Tiến Hùng, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội, cho biết với các trận mưa có lượng mưa từ 50-100 mm/2h sẽ gây quá tải cho hệ thống thoát nước. Dự kiến, Hà Nội tồn tại 15 điểm úng ngập và một số điểm dềnh nước nhỏ lẻ trong các ngõ, xóm, khu dân cư.
Theo ông Hùng, so với năm 2017, số điểm úng ngập đã giảm 3 điểm. Tuy nhiên, Hà Nội còn tình trạng tập kết rác tại các rãnh vỉa, miệng ga. Do đó, rác và túi nylon sẽ theo dòng chảy trôi nhanh về các ga thu, làm giảm khả năng tiêu thoát nước, khi mưa có thể gây ngập úng.
Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Thoát nước Hà Nội cho biết thêm mùa mưa năm nay, mục tiêu của đơn vị là đưa nước nhanh nhất về các nguồn tiêu, đảm bảo thoát nước nhanh nhất với các trận mưa có cường độ lớn, giảm thiểu tối đa về mức độ ngập và thời gian úng ngập.
Ha Noi canh bao ngap ung va chi duong qua dien thoai thong minh hinh anh 1
Hà Nội sẽ có ứng dụng cảnh báo ngập úng, gợi ý chỉ đường trên điện thoại thông minh. Ảnh: Hoàng Hà.
Đơn vị này cũng sẽ tăng cường công tác quản lý vận hành, duy tu duy trì hệ thống thoát nước; sẵn sàng đối phó với các trận mưa theo từng tình huống cụ thể, kể cả các trận mưa vượt quá công suất thiết kế...
Ông Hùng thông tin để thực hiện mục tiêu này, công ty sẽ hoàn thiện trung tâm giám sát hệ thống thoát nước.
"Trung tâm đã triển khai thí điểm ứng dụng HSDC Maps - cảnh báo úng ngập và gợi ý chỉ đường trên điện thoại thông minh cùng với chức năng cảnh báo ngập lụt, gợi ý chỉ đường, thông tin mực nước, hình ảnh camera của điểm ngập... Người dân có thể tải miễn phí ứng dụng về điện thoại để sử dụng", ông Hùng khẳng định.
Theo News Zing

Hà Nội không gỡ biển cấm taxi ở 11 tuyến phố

Giám đốc Sở GTVT Hà Nội khẳng định không gỡ biển cấm taxi tại 11 tuyến phố vì đây là biện pháp cần thiết để giảm ùn tắc giao thông.
Hiệp hội taxi Hà Nội vừa có văn bản gửi UBND Hà Nội, Sở GTVT Hà Nội, kiến nghị dỡ bỏ biển cấm taxi trên các tuyến phố.
Ông Nguyễn Công Hùng, Chủ tịch Hiệp hội taxi Hà Nội, cho biết trước thay đổi của kinh tế thị trường và sự phát triển của công nghệ, các thành viên trong hiệp hội cho rằng cần phải thay đổi để theo kịp xu thế. Ngoài ra, Hiệp hội taxi Hà Nội rất cần những chính sách, giải pháp đảm bảo hài hòa quyền và lợi ích của các doanh nghiệp vận tải.
Chủ tịch Hiệp hội taxi Hà Nội khẳng định ngày 20/3, Văn phòng Chính phủ có văn bản truyền đạt ý kiến của Thủ tướng về việc triển khai các giải pháp phát triển hợp lý các phương thức vận tải tại các thành phố trực thuộc trung ương. Trong đó, nêu rõ ưu tiên phát triển các loại hình vận tải hành khách công cộng như xe buýt, du lịch, taxi trong tổ chức giao thông đô thị. Việc này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sử dụng phương tiện công cộng, từng bước giảm phương tiện giao thông cá nhân.
Ha Noi khong go bien cam taxi o 11 tuyen pho hinh anh 1
Hiện Hà Nội còn 11 tuyến đường cấm xe taxi và xe hợp đồng dưới 9 chỗ. Ảnh: Văn Chương.
“Hiệp hội đề nghị UBND thành phố, Sở GTVT Hà Nội xem xét gỡ bỏ toàn bộ biển cấm taxi tại các tuyến phố hiện nay. Việc này chúng tôi đã đề xuất rất nhiều lần rồi nhưng chưa được đồng ý”, ông Hùng nói.
Trả lời Zing.vn, Giám đốc Sở GTVT Vũ Văn Viện khẳng định quy định cấm taxi hoạt động ở một số tuyến phố vào giờ cao điểm là hoàn toàn hợp lý.
Theo ông Viện, trước khi cắm biển cấm taxi trên 11 tuyến phố, Hà Nội đã nghiên cứu rất kỹ. Những phố cắm biển là tuyến đường thường xảy ra ùn tắc giao thông.
Ha Noi khong go bien cam taxi o 11 tuyen pho hinh anh 2
Các tuyến phố cấm xe hợp đồng giờ cao điểm ở Hà Nội. Đồ hoạ: Châu Châu.
“Thực tế cho thấy một số tuyến phố sau khi có biển cấm taxi, xe hợp đồng dưới 9 chỗ đã giảm ùn tắc. Tuyến đường nào giảm ùn tắc, chúng tôi sẽ gỡ biển cấm taxi và xe hợp đồng. Vì vậy, Sở sẽ không xem xét gỡ biển cấm xe taxi ở 11 tuyến phố”, ông Viện nói.
Giám đốc Sở GTVT Hà Nội cho biết có 2 tuyến phố vừa được Sở gỡ biển cấm taxi vì đã giảm ùn tắc là Mai Xuân Thưởng và Hoàng Hoa Thám (đoạn từ Ngọc Hà đến Mai Xuân Thưởng).

11 tuyến đường cấm taxi, xe hợp đồng

Giảng Võ, Láng Hạ, Lê Văn Lương, Trường Chinh (đoạn từ Vương Thừa Vũ đến Tôn Thất Tùng) - hạn chế hoạt động theo cả 2 chiều trong các khung giờ từ 6h-9h và 16h30-19h.
Phố Khâm Thiên hạn chế hoạt động chiều từ Lê Duẩn đi Ô Chợ Dừa, trừ ngày lễ, thứ bảy, chủ nhật.
Các đường, phố cấm xe hợp đồng dưới 9 chỗ 24/24h gồm:
Phủ Doãn cấm theo chiều Tràng Thi đến Hàng Bông; Cầu Giấy - Xuân Thủy cấm cả hai chiều.
Cầu Chương Dương cấm theo chiều từ Nguyễn Văn Cừ sang Trần Nhật Duật thời gian từ 6h đến 9h, trừ ngày lễ, thứ bảy và chủ nhật.
Theo News Zing

Tuesday, 7 February 2017

Những quyết định sáng tạo khởi nguồn thắng lợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 6/1911, quyết định đi sang Pháp để tìm đường cứu nước là quyết định đầu tiên có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ nhất tư duy độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Khi đó Hồ Chí Minh chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Tháng 12/1920, sau gần mười năm hoạt động thực tiễn sôi nổi và nhận thức lý luận đã dẫn tới một quyết định quan trọng tiếp theo cuả Hồ Chí Minh: Đưa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường của Lê-nin. Những quyết định quan trọng đó khởi nguồn cho thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, thể hiện rõ nét tư duy cách mạng, khoa học, độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh.

Quyết định đi sang Pháp để tìm đường cứu nước là quyết định đầu tiên có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ nhất tư duy độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh.
Quyết định đi sang Pháp để tìm đường cứu nước là quyết định đầu tiên có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ nhất tư duy độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh.
Quyết định sáng tạo đầu tiên
Ngày 5/6/1911, khi ra đi tìm một con đuờng mới cho c uộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân là nguồn sức mạnh nâng bước chân, là ngọn lửa hồng thắp sáng, sưởi ấm tinh thần Hồ Chí Minh trên những chặng đường bôn ba. Hồ Chí Minh đã tích lũy cho mình một vốn sống thực tiễn phong phú, đồng thời Người cũng thu nhận được nhiều tri thức bổ ích từ những nền văn hoá của các dân tộc khác. Hồ Chí Minh trở thành một trong số ít những chiến sĩ cách mạng giàu kinh nghiệm thực tiễn nhất của phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa những năm đầu thế kỷ XX.
Khi Hồ Chí Minh trở lại Pháp, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã thành công. Mặc dù chưa hiểu biết hết ý nghĩa to lớn của cuộc mạng này, nhưng Người nhận thấy đây là một biến cố lớn, có một sức lôi cuốn kì diệu vô cùng.
Trong hai số liên tiếp ngày 16 và ngày 17/6/ 1920, báo L’ Humanité (Nhân đạo) đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê - nin. Hồ Chí Minh đọc văn kiện này sau khi đăng ít hôm và đã có được lời giải đáp cho câu hỏi khát khao đã cháy trong lòng mình hàng chục năm qua. Và cũng từ đó, Người đã thấy được cái cần thiết cho dân tộc Việt Nam - con đườn g giải phóng dân tộc Việt Nam theo tư tưởng cách mạng của Lê-nin. Luận cương của V.I. Lê-nin đã gây cho Hồ Chí Minh một cảm xúc mạnh mẽ. Những luận điểm của V.I. Lê - nin về những vấn đề dân tộc và thuộc địa trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới được luận giải trong Luận cương đã làm cho Hồ Chí Minh hoàn toàn tin theo Lê - nin, tin theo Quốc tế thứ ba. Ngày 30/12/ 1920, tại Đại hội Tua, Hồ Chí Minh bỏ phiếu tán thành và trở thành một trong những người sáng lậ p của Đảng Cộng sản Pháp.
Kết quả của hoạt động thực tiễn và việc tiếp nhận lý luận ban đầu càng làm sáng tỏ hơn con đường cứu dân tộc mà Hồ Chí Minh đang đi tìm và đã dẫn tới một quyết định quan trọng tiếp sau quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước - đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường của Lê-nin. Tư tưởng yêu nước và khát vọng cứu nước mang thêm những yếu tố mới trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước truyền thống đi theo Hồ Chí Minh trong suốt những năm bôn ba đã gặp gỡ ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin như một tất yếu. Hồ Chí Minh đã đảm nhận nhiệm vụ lịch sử đưa ánh sáng của tư tưởng Lê - nin đã soi rọi cho mình tới cuộc đấu tranh giải phóng củ a dân tộc Việt Nam.
Sáng tạo tiếp nối sáng tạo
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam và các giá trị văn hóa phương Đông. Người đã phát hiện ra nội dung lớn mà các tác phẩm lý luận thời đó ít đề cập: Đó là sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc và tinh thần yêu nước. Yếu tố dân tộc và yêu nước chẳng những có thể ảnh hưởng đến phong trào của giai cấp công nhân, nông dân mà nó còn có khả năng thay đổi lập trường của các giai cấp khác như tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận trong giai cấp địa chủ. Sức mạnh này thể hiện sinh động ở Việt Nam trong các phong trào chống Pháp xâm lược, thu hút mọi lực lượng xã hội, mọi tầ ng lớp, giai cấp. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Tuy nhiên, yếu tố trước tiên, quan trọng nhất là phải có một đảng cách mạng chân chính, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng trước hết cần có đảng cộng sản chân chính lãnh đạo vì Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ vì lợi ích của riêng giai cấp công nhân hay những người cộng sản, mà trước hết để cứu nước, để giành lại độc lậ p cho dân tộc Việt Nam. Đây là một quan điểm mới, sáng tạo của Hồ Chí Minh về tính tất yếu phải có Đảng cộng sản lãnh đạo đấu tranh ở một nước thuộc địa.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ thực tiễn đất nước để phân tích mâu thuẫn xã hội Việt Nam. Hồ Chí Minh nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan, khoa học sự phân hoá giai cấp và những mâu thuẫn trong xã hội thuộc địa. Trong một số tác phẩm viết từ những năm 20 thế kỷ XX như Đông Dương, Bản án chế độ thực dân Pháp, Đườ ng K ách mệnh , Hồ Chí Minh đã phân tích thấu đáo những nét riêng về mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp ở Việt Nam, đối chiếu với các nước khác, nhất là đối chiếu với một số nước phương Tây. Cùng với sự phân tích mâu thuẫn giai cấp, điểm đúng đắn và sáng tạo ở Hồ Chí Minh là chú ý phân tích làm nổi bật hơn mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu mà cách mạng Việt Nam cần tập trung giải quyết. Đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân, phong kiến tay sai. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khi thời cơ giải phóng dân tộc xuất hiện phải ưu tiên giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê - nin phù hợp với điều kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến.
​Nhà nghiên cứu Gabrien Bone nhận xét: “Công trình phân tích về thuộc địa của Hồ Chí Minh vượt xa tất cả những gì mà cho đến lúc bấy giờ các nhà lý luận Mác-xít đã nói. Giống như thế kỷ trước, Hô-xê Mác-ti nhà cách mạng lớn Cu - ba đã là một nhà Mác-xít - Lê-nin-nít đầy sức thuyết phục trước khi đọc Mác và chưa hề hiểu được rằng một người tên gọi Lê-nin sẽ khuấy động thế kỷ XX bằng chủ nghĩa của mình, Hồ Chí Minh đã soạn thảo một chùm lý luận đầy uy tín không thể chối cãi được nhằm giải phóng người dân thuộc địa bị áp bức”. Sự sáng tạo đó là khởi nguồn dẫn tới thắng lợ i vẻ vang của cuộc cách mạng giả i phóng dân tộc ở Việt Nam.

Hình ảnh những chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc một thời “nếm mật nằm gai”

Trong những năm kháng chiến, để giữ “mạch máu” thông tin liên lạc luôn được thông suốt trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực cho sự chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước, những cán bộ, chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc thời kỳ đó phải đối mặt với bao hiểm nguy, thậm chí chấp nhận hy sinh khi bị địch phát hiện và tấn công.

Chúng tôi có dịp ghé thăm Phòng truyền thống của ngành bưu điện tại Dốc Miếu, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị và được thấy những hình ảnh đầy cảm động của những chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc thời kháng chiến đầy gian khổ.
Tượng đài giao bưu thông tin liên lạc được xây dựng ngay trên tuyến hàng rào điện tử Macnamara
Tượng đài giao bưu thông tin liên lạc được xây dựng ngay trên tuyến hàng rào điện tử Macnamara
Cạnh đó là Tượng đài Giao bưu, thông tin liên lạc được xây dựng để ca ngợi và tri ân những chiến công, sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ thông tin. Tượng đài được xây dựng ngay trên tuyến hàng rào điện tử Macnamara và là nơi diễn ra cuộc chiến tranh ác liệt, giành giật từng tấc đất giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tượng đài Giao bưu ở Dốc Miếu (huyện Gio Linh) với 3 nhân vật: Nữ Giao bưu trên dãy Trường Sơn; anh Giao bưu luôn vững tay chèo đưa đón cán bộ vào Nam ra Bắc; anh Thông tin vô tuyến điện dũng cảm, mưu trí đảm bảo thông tin liên lạc. (Ảnh: Đăng Đức)
Tượng đài Giao bưu ở Dốc Miếu (huyện Gio Linh) với 3 nhân vật: Nữ Giao bưu trên dãy Trường Sơn; anh Giao bưu luôn vững tay chèo đưa đón cán bộ vào Nam ra Bắc; anh Thông tin vô tuyến điện dũng cảm, mưu trí đảm bảo thông tin liên lạc. (Ảnh: Đăng Đức)
Sau Hiệp định Genevơ (tháng 7/1954), đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành 2 miền. Vĩ tuyến 17-sông Bến Hải được chọn làm ranh giới và cũng từ đó mảnh đất Quảng Trị phải phân thân để gánh vác sứ mệnh lịch sử cao cả. Phía Bắc sông Bến Hải củng cố hòa bình và tiến lên xây dựng CNXH, còn phía Nam tiếp tục công cuộc đấu tranh, thống nhất nước nhà.
Để đảm bảo “mạch máu” thông tin, kết nối thông liên lạc giữa hai miền Nam - Bắc, giữa hậu phương và chiến trường, một số cán bộ, chiến sĩ ngành bưu điện được bố trí ở lại miền Nam, số còn lại tập kết ra Bắc xây dựng bưu điện Đặc khu Vĩnh Linh.
Mặc dù phải đảm nhiệm công tác trong vòng vây kẻ thù, đối diện với bao thế lực theo dõi, mật thám, song những cán bộ, chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc thời kỳ đó vẫn vượt qua gian khổ, sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh để đảm bảo cho thông tin hai miền luôn được thông suốt. Qua đó, các cơ sở Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang nắm được các diễn biến, hoạt động của địch ở phía Nam để triển khai phương án tác chiến.
Chiến sĩ thông tin ở mặt trận Khe Sanh đảm bảo thông tin liên lạc
Chiến sĩ thông tin ở mặt trận Khe Sanh đảm bảo thông tin liên lạc
Năm 1957, địch phát hiện tuyến giao bưu Bắc - Nam, nhiều cán bộ giao bưu bị bắt, đường trục giao bưu phải rời vào rừng sâu, tiếp tục duy trì, giữ vững liên lạc. Năm 1958, Ban C10 được thành lập, Giao bưu Bắc - Nam mở rộng thêm 3 tuyến: Tuyến vượt sông Bến Hải bắt liên lạc với giao bưu Gio Cam để chuyển tài liệu, dẫn đường cho cán bộ, đưa đón an toàn hàng ngàn lượt cán bộ vào Nam ra Bắc; tuyến đi trên biển bằng thuyền từ Cửa Tùng vào Cửa Việt, Cửa Thuận An và Liên khu 5, lúc đầu đưa đón cán bộ, sau chủ yếu vận tải lương thực, vũ khí cung cấp cho chiến trường Trị Thiên và Liên khu 5; Tuyến vượt Tây trường Sơn từ Bãi Hà vòng qua Lào về miền tây Quảng trị - đưa đón cán bộ, lực lượng vũ trang, các đoàn vận tải lương thực, vũ khí, nhu yếu phẩm từ Bắc vào Trị Thiên và Liên khu.
Trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu đã xuất hiện nhiều tấm gương mưu trí, dũng cảm hy sinh để làm tròn nhiệm vụ như: anh hùng Võ Duy Kinh, Nguyễn Xuân Phương, Cu Lâm, Nguyễn Thị On...
Qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bưu điện Quảng Trị đã có 175 cán bộ, chiến sĩ giao bưu thông tin hy sinh được công nhận là liệt sỹ, hàng trăm người là thương binh, hàng trăm người bị tù đầy, tra tấn, bị bệnh tật, bị nhiễm chất độc màu da cam...
Những hình ảnh đầy xúc động về quá trình chiến đấu gian khổ, hào hùng của những chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc thời chiến (Ảnh tư liệu, PV Dân trí chụp lại):
Báo vụ viên sửa chữa máy thu để khắc phục khó khăn trên chiến trường
Báo vụ viên sửa chữa máy thu để khắc phục khó khăn trên chiến trường
Sẵn sàng chiến đấu đảm bảo thông tin liên lạc
Sẵn sàng chiến đấu đảm bảo thông tin liên lạc
Tổng đài điện thoại 100 số đặt tại Hồ Xá được bố trí dưới hầm ngầm ngày đêm vẫn đảm bảo thông tin
Tổng đài điện thoại 100 số đặt tại Hồ Xá được bố trí dưới hầm ngầm ngày đêm vẫn đảm bảo thông tin
Thanh niên xung phong Quảng Trị vận tải đạn trên tuyến hành lang giao bưu phục vụ chiến dịch Tết Mậu Thân 1968
Thanh niên xung phong Quảng Trị vận tải đạn trên tuyến hành lang giao bưu phục vụ chiến dịch Tết Mậu Thân 1968
Nữ giao liên điện đàm cấp báo thông tin
Nữ giao liên điện đàm cấp báo thông tin
Lính giao bưu truyền thông tin ngay tại trận địa
Giao bưu dẫn đoàn bộ đội hành quân qua suối
Giao bưu dẫn đoàn bộ đội hành quân qua suối
Nối dây điện thoại bị đứt mỗi khi bị ném bom, pháo kích của địch để đảm bảo thông tin được thông suốt
Nối dây điện thoại bị đứt mỗi khi bị ném bom, pháo kích của địch để đảm bảo thông tin được thông suốt
Giao bưu bắc cầu tạm cho bộ đội vào miền Nam chiến đấu trên đường giao bưu liên tỉnh
Giao bưu bắc cầu tạm cho bộ đội vào miền Nam chiến đấu trên đường giao bưu liên tỉnh
Đại đội 2 Thanh niên xung phong thuộc giao bưu Trị Thiên vận chuyển đạn phục vụ chiến dịch đường 9 - Khe Sanh - Nam Lào
Đại đội 2 Thanh niên xung phong thuộc giao bưu Trị Thiên vận chuyển đạn phục vụ chiến dịch đường 9 - Khe Sanh - Nam Lào
Chiến sĩ vô tuyến điện Hoàng Văn Vân phục vụ đắc lực cho chiến dịch đường 9 - Khe Sanh - Nam Lào
Chiến sĩ vô tuyến điện Hoàng Văn Vân phục vụ đắc lực cho chiến dịch đường 9 - Khe Sanh - Nam Lào
Giao bưu Cam Lộ đưa báo về cho du kích xã.
Giao bưu Cam Lộ đưa báo về cho du kích xã.

Friday, 13 January 2017

Những quyết định sáng tạo khởi nguồn thắng lợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 6/1911, quyết định đi sang Pháp để tìm đường cứu nước là quyết định đầu tiên có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ nhất tư duy độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Khi đó Hồ Chí Minh chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Tháng 12/1920, sau gần mười năm hoạt động thực tiễn sôi nổi và nhận thức lý luận đã dẫn tới một quyết định quan trọng tiếp theo cuả Hồ Chí Minh: Đưa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường của Lê-nin. Những quyết định quan trọng đó khởi nguồn cho thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, thể hiện rõ nét tư duy cách mạng, khoa học, độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh.

Quyết định đi sang Pháp để tìm đường cứu nước là quyết định đầu tiên có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ nhất tư duy độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh.
Quyết định đi sang Pháp để tìm đường cứu nước là quyết định đầu tiên có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ nhất tư duy độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh.
Quyết định sáng tạo đầu tiên
Ngày 5/6/1911, khi ra đi tìm một con đuờng mới cho c uộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân là nguồn sức mạnh nâng bước chân, là ngọn lửa hồng thắp sáng, sưởi ấm tinh thần Hồ Chí Minh trên những chặng đường bôn ba. Hồ Chí Minh đã tích lũy cho mình một vốn sống thực tiễn phong phú, đồng thời Người cũng thu nhận được nhiều tri thức bổ ích từ những nền văn hoá của các dân tộc khác. Hồ Chí Minh trở thành một trong số ít những chiến sĩ cách mạng giàu kinh nghiệm thực tiễn nhất của phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa những năm đầu thế kỷ XX.
Khi Hồ Chí Minh trở lại Pháp, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã thành công. Mặc dù chưa hiểu biết hết ý nghĩa to lớn của cuộc mạng này, nhưng Người nhận thấy đây là một biến cố lớn, có một sức lôi cuốn kì diệu vô cùng.
Trong hai số liên tiếp ngày 16 và ngày 17/6/ 1920, báo L’ Humanité (Nhân đạo) đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê - nin. Hồ Chí Minh đọc văn kiện này sau khi đăng ít hôm và đã có được lời giải đáp cho câu hỏi khát khao đã cháy trong lòng mình hàng chục năm qua. Và cũng từ đó, Người đã thấy được cái cần thiết cho dân tộc Việt Nam - con đườn g giải phóng dân tộc Việt Nam theo tư tưởng cách mạng của Lê-nin. Luận cương của V.I. Lê-nin đã gây cho Hồ Chí Minh một cảm xúc mạnh mẽ. Những luận điểm của V.I. Lê - nin về những vấn đề dân tộc và thuộc địa trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới được luận giải trong Luận cương đã làm cho Hồ Chí Minh hoàn toàn tin theo Lê - nin, tin theo Quốc tế thứ ba. Ngày 30/12/ 1920, tại Đại hội Tua, Hồ Chí Minh bỏ phiếu tán thành và trở thành một trong những người sáng lậ p của Đảng Cộng sản Pháp.
Kết quả của hoạt động thực tiễn và việc tiếp nhận lý luận ban đầu càng làm sáng tỏ hơn con đường cứu dân tộc mà Hồ Chí Minh đang đi tìm và đã dẫn tới một quyết định quan trọng tiếp sau quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước - đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường của Lê-nin. Tư tưởng yêu nước và khát vọng cứu nước mang thêm những yếu tố mới trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước truyền thống đi theo Hồ Chí Minh trong suốt những năm bôn ba đã gặp gỡ ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin như một tất yếu. Hồ Chí Minh đã đảm nhận nhiệm vụ lịch sử đưa ánh sáng của tư tưởng Lê - nin đã soi rọi cho mình tới cuộc đấu tranh giải phóng củ a dân tộc Việt Nam.
Sáng tạo tiếp nối sáng tạo
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam và các giá trị văn hóa phương Đông. Người đã phát hiện ra nội dung lớn mà các tác phẩm lý luận thời đó ít đề cập: Đó là sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc và tinh thần yêu nước. Yếu tố dân tộc và yêu nước chẳng những có thể ảnh hưởng đến phong trào của giai cấp công nhân, nông dân mà nó còn có khả năng thay đổi lập trường của các giai cấp khác như tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận trong giai cấp địa chủ. Sức mạnh này thể hiện sinh động ở Việt Nam trong các phong trào chống Pháp xâm lược, thu hút mọi lực lượng xã hội, mọi tầ ng lớp, giai cấp. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Tuy nhiên, yếu tố trước tiên, quan trọng nhất là phải có một đảng cách mạng chân chính, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng trước hết cần có đảng cộng sản chân chính lãnh đạo vì Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ vì lợi ích của riêng giai cấp công nhân hay những người cộng sản, mà trước hết để cứu nước, để giành lại độc lậ p cho dân tộc Việt Nam. Đây là một quan điểm mới, sáng tạo của Hồ Chí Minh về tính tất yếu phải có Đảng cộng sản lãnh đạo đấu tranh ở một nước thuộc địa.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ thực tiễn đất nước để phân tích mâu thuẫn xã hội Việt Nam. Hồ Chí Minh nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan, khoa học sự phân hoá giai cấp và những mâu thuẫn trong xã hội thuộc địa. Trong một số tác phẩm viết từ những năm 20 thế kỷ XX như Đông Dương, Bản án chế độ thực dân Pháp, Đườ ng K ách mệnh , Hồ Chí Minh đã phân tích thấu đáo những nét riêng về mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp ở Việt Nam, đối chiếu với các nước khác, nhất là đối chiếu với một số nước phương Tây. Cùng với sự phân tích mâu thuẫn giai cấp, điểm đúng đắn và sáng tạo ở Hồ Chí Minh là chú ý phân tích làm nổi bật hơn mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu mà cách mạng Việt Nam cần tập trung giải quyết. Đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân, phong kiến tay sai. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khi thời cơ giải phóng dân tộc xuất hiện phải ưu tiên giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê - nin phù hợp với điều kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến.
​Nhà nghiên cứu Gabrien Bone nhận xét: “Công trình phân tích về thuộc địa của Hồ Chí Minh vượt xa tất cả những gì mà cho đến lúc bấy giờ các nhà lý luận Mác-xít đã nói. Giống như thế kỷ trước, Hô-xê Mác-ti nhà cách mạng lớn Cu - ba đã là một nhà Mác-xít - Lê-nin-nít đầy sức thuyết phục trước khi đọc Mác và chưa hề hiểu được rằng một người tên gọi Lê-nin sẽ khuấy động thế kỷ XX bằng chủ nghĩa của mình, Hồ Chí Minh đã soạn thảo một chùm lý luận đầy uy tín không thể chối cãi được nhằm giải phóng người dân thuộc địa bị áp bức”. Sự sáng tạo đó là khởi nguồn dẫn tới thắng lợ i vẻ vang của cuộc cách mạng giả i phóng dân tộc ở Việt Nam.

Hình ảnh những chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc một thời “nếm mật nằm gai”

Trong những năm kháng chiến, để giữ “mạch máu” thông tin liên lạc luôn được thông suốt trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực cho sự chỉ đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước, những cán bộ, chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc thời kỳ đó phải đối mặt với bao hiểm nguy, thậm chí chấp nhận hy sinh khi bị địch phát hiện và tấn công.

Chúng tôi có dịp ghé thăm Phòng truyền thống của ngành bưu điện tại Dốc Miếu, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị và được thấy những hình ảnh đầy cảm động của những chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc thời kháng chiến đầy gian khổ.
Tượng đài giao bưu thông tin liên lạc được xây dựng ngay trên tuyến hàng rào điện tử Macnamara
Tượng đài giao bưu thông tin liên lạc được xây dựng ngay trên tuyến hàng rào điện tử Macnamara
Cạnh đó là Tượng đài Giao bưu, thông tin liên lạc được xây dựng để ca ngợi và tri ân những chiến công, sự hy sinh anh dũng của các chiến sĩ thông tin. Tượng đài được xây dựng ngay trên tuyến hàng rào điện tử Macnamara và là nơi diễn ra cuộc chiến tranh ác liệt, giành giật từng tấc đất giữa ta và địch trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Tượng đài Giao bưu ở Dốc Miếu (huyện Gio Linh) với 3 nhân vật: Nữ Giao bưu trên dãy Trường Sơn; anh Giao bưu luôn vững tay chèo đưa đón cán bộ vào Nam ra Bắc; anh Thông tin vô tuyến điện dũng cảm, mưu trí đảm bảo thông tin liên lạc. (Ảnh: Đăng Đức)
Tượng đài Giao bưu ở Dốc Miếu (huyện Gio Linh) với 3 nhân vật: Nữ Giao bưu trên dãy Trường Sơn; anh Giao bưu luôn vững tay chèo đưa đón cán bộ vào Nam ra Bắc; anh Thông tin vô tuyến điện dũng cảm, mưu trí đảm bảo thông tin liên lạc. (Ảnh: Đăng Đức)
Sau Hiệp định Genevơ (tháng 7/1954), đất nước ta tạm thời bị chia cắt thành 2 miền. Vĩ tuyến 17-sông Bến Hải được chọn làm ranh giới và cũng từ đó mảnh đất Quảng Trị phải phân thân để gánh vác sứ mệnh lịch sử cao cả. Phía Bắc sông Bến Hải củng cố hòa bình và tiến lên xây dựng CNXH, còn phía Nam tiếp tục công cuộc đấu tranh, thống nhất nước nhà.
Để đảm bảo “mạch máu” thông tin, kết nối thông liên lạc giữa hai miền Nam - Bắc, giữa hậu phương và chiến trường, một số cán bộ, chiến sĩ ngành bưu điện được bố trí ở lại miền Nam, số còn lại tập kết ra Bắc xây dựng bưu điện Đặc khu Vĩnh Linh.
Mặc dù phải đảm nhiệm công tác trong vòng vây kẻ thù, đối diện với bao thế lực theo dõi, mật thám, song những cán bộ, chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc thời kỳ đó vẫn vượt qua gian khổ, sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh để đảm bảo cho thông tin hai miền luôn được thông suốt. Qua đó, các cơ sở Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang nắm được các diễn biến, hoạt động của địch ở phía Nam để triển khai phương án tác chiến.
Chiến sĩ thông tin ở mặt trận Khe Sanh đảm bảo thông tin liên lạc
Chiến sĩ thông tin ở mặt trận Khe Sanh đảm bảo thông tin liên lạc
Năm 1957, địch phát hiện tuyến giao bưu Bắc - Nam, nhiều cán bộ giao bưu bị bắt, đường trục giao bưu phải rời vào rừng sâu, tiếp tục duy trì, giữ vững liên lạc. Năm 1958, Ban C10 được thành lập, Giao bưu Bắc - Nam mở rộng thêm 3 tuyến: Tuyến vượt sông Bến Hải bắt liên lạc với giao bưu Gio Cam để chuyển tài liệu, dẫn đường cho cán bộ, đưa đón an toàn hàng ngàn lượt cán bộ vào Nam ra Bắc; tuyến đi trên biển bằng thuyền từ Cửa Tùng vào Cửa Việt, Cửa Thuận An và Liên khu 5, lúc đầu đưa đón cán bộ, sau chủ yếu vận tải lương thực, vũ khí cung cấp cho chiến trường Trị Thiên và Liên khu 5; Tuyến vượt Tây trường Sơn từ Bãi Hà vòng qua Lào về miền tây Quảng trị - đưa đón cán bộ, lực lượng vũ trang, các đoàn vận tải lương thực, vũ khí, nhu yếu phẩm từ Bắc vào Trị Thiên và Liên khu.
Trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu đã xuất hiện nhiều tấm gương mưu trí, dũng cảm hy sinh để làm tròn nhiệm vụ như: anh hùng Võ Duy Kinh, Nguyễn Xuân Phương, Cu Lâm, Nguyễn Thị On...
Qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, Bưu điện Quảng Trị đã có 175 cán bộ, chiến sĩ giao bưu thông tin hy sinh được công nhận là liệt sỹ, hàng trăm người là thương binh, hàng trăm người bị tù đầy, tra tấn, bị bệnh tật, bị nhiễm chất độc màu da cam...
Những hình ảnh đầy xúc động về quá trình chiến đấu gian khổ, hào hùng của những chiến sĩ giao bưu, thông tin liên lạc thời chiến (Ảnh tư liệu, PV Dân trí chụp lại):
Báo vụ viên sửa chữa máy thu để khắc phục khó khăn trên chiến trường
Báo vụ viên sửa chữa máy thu để khắc phục khó khăn trên chiến trường
Sẵn sàng chiến đấu đảm bảo thông tin liên lạc
Sẵn sàng chiến đấu đảm bảo thông tin liên lạc
Tổng đài điện thoại 100 số đặt tại Hồ Xá được bố trí dưới hầm ngầm ngày đêm vẫn đảm bảo thông tin
Tổng đài điện thoại 100 số đặt tại Hồ Xá được bố trí dưới hầm ngầm ngày đêm vẫn đảm bảo thông tin
Thanh niên xung phong Quảng Trị vận tải đạn trên tuyến hành lang giao bưu phục vụ chiến dịch Tết Mậu Thân 1968
Thanh niên xung phong Quảng Trị vận tải đạn trên tuyến hành lang giao bưu phục vụ chiến dịch Tết Mậu Thân 1968
Nữ giao liên điện đàm cấp báo thông tin
Nữ giao liên điện đàm cấp báo thông tin
Lính giao bưu truyền thông tin ngay tại trận địa
Giao bưu dẫn đoàn bộ đội hành quân qua suối
Giao bưu dẫn đoàn bộ đội hành quân qua suối
Nối dây điện thoại bị đứt mỗi khi bị ném bom, pháo kích của địch để đảm bảo thông tin được thông suốt
Nối dây điện thoại bị đứt mỗi khi bị ném bom, pháo kích của địch để đảm bảo thông tin được thông suốt
Giao bưu bắc cầu tạm cho bộ đội vào miền Nam chiến đấu trên đường giao bưu liên tỉnh
Giao bưu bắc cầu tạm cho bộ đội vào miền Nam chiến đấu trên đường giao bưu liên tỉnh
Đại đội 2 Thanh niên xung phong thuộc giao bưu Trị Thiên vận chuyển đạn phục vụ chiến dịch đường 9 - Khe Sanh - Nam Lào
Đại đội 2 Thanh niên xung phong thuộc giao bưu Trị Thiên vận chuyển đạn phục vụ chiến dịch đường 9 - Khe Sanh - Nam Lào
Chiến sĩ vô tuyến điện Hoàng Văn Vân phục vụ đắc lực cho chiến dịch đường 9 - Khe Sanh - Nam Lào
Chiến sĩ vô tuyến điện Hoàng Văn Vân phục vụ đắc lực cho chiến dịch đường 9 - Khe Sanh - Nam Lào
Giao bưu Cam Lộ đưa báo về cho du kích xã.
Giao bưu Cam Lộ đưa báo về cho du kích xã.

Monday, 5 December 2016

Những quyết định sáng tạo khởi nguồn thắng lợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tháng 6/1911, quyết định đi sang Pháp để tìm đường cứu nước là quyết định đầu tiên có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ nhất tư duy độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh. Khi đó Hồ Chí Minh chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”.

Tháng 12/1920, sau gần mười năm hoạt động thực tiễn sôi nổi và nhận thức lý luận đã dẫn tới một quyết định quan trọng tiếp theo cuả Hồ Chí Minh: Đưa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam theo con đường của Lê-nin. Những quyết định quan trọng đó khởi nguồn cho thắng lợi của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, thể hiện rõ nét tư duy cách mạng, khoa học, độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh.

Quyết định đi sang Pháp để tìm đường cứu nước là quyết định đầu tiên có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ nhất tư duy độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh.
Quyết định đi sang Pháp để tìm đường cứu nước là quyết định đầu tiên có ý nghĩa lịch sử, thể hiện rõ nhất tư duy độc lập và sáng tạo của Hồ Chí Minh.
Quyết định sáng tạo đầu tiên
Ngày 5/6/1911, khi ra đi tìm một con đuờng mới cho c uộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ nung nấu một quyết tâm cháy bỏng: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Khát vọng giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân là nguồn sức mạnh nâng bước chân, là ngọn lửa hồng thắp sáng, sưởi ấm tinh thần Hồ Chí Minh trên những chặng đường bôn ba. Hồ Chí Minh đã tích lũy cho mình một vốn sống thực tiễn phong phú, đồng thời Người cũng thu nhận được nhiều tri thức bổ ích từ những nền văn hoá của các dân tộc khác. Hồ Chí Minh trở thành một trong số ít những chiến sĩ cách mạng giàu kinh nghiệm thực tiễn nhất của phong trào đấu tranh giải phóng các dân tộc thuộc địa những năm đầu thế kỷ XX.
Khi Hồ Chí Minh trở lại Pháp, Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã thành công. Mặc dù chưa hiểu biết hết ý nghĩa to lớn của cuộc mạng này, nhưng Người nhận thấy đây là một biến cố lớn, có một sức lôi cuốn kì diệu vô cùng.
Trong hai số liên tiếp ngày 16 và ngày 17/6/ 1920, báo L’ Humanité (Nhân đạo) đăng Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê - nin. Hồ Chí Minh đọc văn kiện này sau khi đăng ít hôm và đã có được lời giải đáp cho câu hỏi khát khao đã cháy trong lòng mình hàng chục năm qua. Và cũng từ đó, Người đã thấy được cái cần thiết cho dân tộc Việt Nam - con đườn g giải phóng dân tộc Việt Nam theo tư tưởng cách mạng của Lê-nin. Luận cương của V.I. Lê-nin đã gây cho Hồ Chí Minh một cảm xúc mạnh mẽ. Những luận điểm của V.I. Lê - nin về những vấn đề dân tộc và thuộc địa trong bối cảnh mới của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc trên toàn thế giới được luận giải trong Luận cương đã làm cho Hồ Chí Minh hoàn toàn tin theo Lê - nin, tin theo Quốc tế thứ ba. Ngày 30/12/ 1920, tại Đại hội Tua, Hồ Chí Minh bỏ phiếu tán thành và trở thành một trong những người sáng lậ p của Đảng Cộng sản Pháp.
Kết quả của hoạt động thực tiễn và việc tiếp nhận lý luận ban đầu càng làm sáng tỏ hơn con đường cứu dân tộc mà Hồ Chí Minh đang đi tìm và đã dẫn tới một quyết định quan trọng tiếp sau quyết định sang phương Tây tìm đường cứu nước - đưa cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường của Lê-nin. Tư tưởng yêu nước và khát vọng cứu nước mang thêm những yếu tố mới trên nền tảng chủ nghĩa yêu nước truyền thống đi theo Hồ Chí Minh trong suốt những năm bôn ba đã gặp gỡ ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin như một tất yếu. Hồ Chí Minh đã đảm nhận nhiệm vụ lịch sử đưa ánh sáng của tư tưởng Lê - nin đã soi rọi cho mình tới cuộc đấu tranh giải phóng củ a dân tộc Việt Nam.
Sáng tạo tiếp nối sáng tạo
Hồ Chí Minh đã nghiên cứu truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam và các giá trị văn hóa phương Đông. Người đã phát hiện ra nội dung lớn mà các tác phẩm lý luận thời đó ít đề cập: Đó là sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc và tinh thần yêu nước. Yếu tố dân tộc và yêu nước chẳng những có thể ảnh hưởng đến phong trào của giai cấp công nhân, nông dân mà nó còn có khả năng thay đổi lập trường của các giai cấp khác như tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận trong giai cấp địa chủ. Sức mạnh này thể hiện sinh động ở Việt Nam trong các phong trào chống Pháp xâm lược, thu hút mọi lực lượng xã hội, mọi tầ ng lớp, giai cấp. Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Tuy nhiên, yếu tố trước tiên, quan trọng nhất là phải có một đảng cách mạng chân chính, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Theo Hồ Chí Minh, cách mạng trước hết cần có đảng cộng sản chân chính lãnh đạo vì Đảng là đội tiên phong của giai cấp và dân tộc. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ vì lợi ích của riêng giai cấp công nhân hay những người cộng sản, mà trước hết để cứu nước, để giành lại độc lậ p cho dân tộc Việt Nam. Đây là một quan điểm mới, sáng tạo của Hồ Chí Minh về tính tất yếu phải có Đảng cộng sản lãnh đạo đấu tranh ở một nước thuộc địa.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ thực tiễn đất nước để phân tích mâu thuẫn xã hội Việt Nam. Hồ Chí Minh nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan, khoa học sự phân hoá giai cấp và những mâu thuẫn trong xã hội thuộc địa. Trong một số tác phẩm viết từ những năm 20 thế kỷ XX như Đông Dương, Bản án chế độ thực dân Pháp, Đườ ng K ách mệnh , Hồ Chí Minh đã phân tích thấu đáo những nét riêng về mâu thuẫn dân tộc, mâu thuẫn giai cấp ở Việt Nam, đối chiếu với các nước khác, nhất là đối chiếu với một số nước phương Tây. Cùng với sự phân tích mâu thuẫn giai cấp, điểm đúng đắn và sáng tạo ở Hồ Chí Minh là chú ý phân tích làm nổi bật hơn mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu mà cách mạng Việt Nam cần tập trung giải quyết. Đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân, phong kiến tay sai. Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, khi thời cơ giải phóng dân tộc xuất hiện phải ưu tiên giải quyết nhiệm vụ giải phóng dân tộc. Đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê - nin phù hợp với điều kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến.
​Nhà nghiên cứu Gabrien Bone nhận xét: “Công trình phân tích về thuộc địa của Hồ Chí Minh vượt xa tất cả những gì mà cho đến lúc bấy giờ các nhà lý luận Mác-xít đã nói. Giống như thế kỷ trước, Hô-xê Mác-ti nhà cách mạng lớn Cu - ba đã là một nhà Mác-xít - Lê-nin-nít đầy sức thuyết phục trước khi đọc Mác và chưa hề hiểu được rằng một người tên gọi Lê-nin sẽ khuấy động thế kỷ XX bằng chủ nghĩa của mình, Hồ Chí Minh đã soạn thảo một chùm lý luận đầy uy tín không thể chối cãi được nhằm giải phóng người dân thuộc địa bị áp bức”. Sự sáng tạo đó là khởi nguồn dẫn tới thắng lợ i vẻ vang của cuộc cách mạng giả i phóng dân tộc ở Việt Nam.