Pages

Thursday, 5 November 2015

Người bắn hạ hai anh em ông Ngô Đình Diệm nói gì trước khi chết?

Ai ra lệnh giết anh em ông Ngô Đình Diệm? Ai cầm súng cầm dao hạ sát hai ông ấy? Từ trước đến nay dư luận đều đổ vào cho hai người đó là tướng Dương Văn Minh và Đại úy Nguyễn Văn Nhung.

Về tướng Dương Văn Minh có nhiều tài liệu đã viết. Còn chuyện đại úy quân đội VNCH Nguyễn Văn Nhung sống chết như thế nào chưa có nhiều người biết.
 
Ngô Đình Diệm (Phải) và Ngô Đình Nhu - Ảnh: TL
Ngô Đình Diệm (Phải) và Ngô Đình Nhu - Ảnh: TL
 
Đảo chánh lật đổ chế độ Diệm chưa đầy 100 ngày thì các tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh và đại tá Nguyễn Chánh Thi làm cuộc “chỉnh lý 30.1.1964”. Để “trả thù cho ông cụ” (cụm từ của tướng Nguyễn Khánh đã nói với bà Trần Trung Dung-cháu gọi ông Diệm bằng cậu), những người làm “chỉnh lý” bắt ngay thiếu tá Nguyễn Văn Nhung. (Nguyễn Văn Nhung mới lên thiếu tá từ sau ngày đảo chánh 1.11.1963).
 
Ngày 17.2.1964, sĩ quan báo chí Bộ Quốc phòng của Nguyễn Khánh chính thức tiết lộ: “Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung sỹ quan tổng quát và tùy viên của trung tướng Dương Văn Minh bị bắt giữ hồi đêm 30-1 và giam tại Lữ đoàn Nhảy dù trại Hoàng Hoa Thám, ông Nhung tự vận bằng dây giày”.

Là một trong những người lãnh đạo cuộc “chỉnh lý 30.1.1964”, ông Nguyễn Chánh Thi đã kể lại chuyện nầy trong hồi ký của ông như sau:

Trời sáng rõ. Các cánh quân bắt đầu đem về Bộ chỉ huy đảo chánh (“chỉnh lý”) những người mà họ cho là không ít thì nhiều “có tội với đất nước” (Sau này ông Khánh đã đặt ra những tội “trung lập” và “thân cộng” gán cho họ). Trong số này tôi (Nguyễn Chánh Thi) thấy có thiếu tá Nhung, viên sĩ quan cận vệ của trung tướng Dương Văn Minh. Thiếu tá Nhung được lệnh phải làm một bản tường trình về việc “tại sao, và bằng cách nào, đã quyết định giết chết ông Nhu và ông Diệm. Thiếu tá Nhung khai hoàn toàn không biết gì về quyết định của Hội đồng Quân nhân Cách mạng cả. Ông ta đã thuật lại việc giết hai ông Diệm, Nhu như sau:
 
Tờ khai của thiếu tá Nhung - người ám sát anh em Ngô Đình Diệm
Khi đó lại thấy tướng Thu đưa lên hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) của bàn tay trái, với hai ngón khép lại với nhau, chỉ vào hai ngón tay của bàn tay phải giơ lên. Họ nghĩ rằng ông ra lệnh bắn cả hai anh em ông Diệm. Tôi (thiếu tá Nhung) rút khẩu súng Colt 12, bắn mỗi người 5 phát.
“Tôi (Nhung) được lệnh đi theo Đoàn Thiết giáp lên đón hai ông Diệm, Nhu, sau khi được tin hai ông này từ một nhà thờ ở Chợ Lớn gọi điện thoại xin đầu hàng. Đoàn Thiết giáp do trung tá Nghĩa chỉ huy. Có một số sĩ quan ở Bộ Tổng Tham mưu đi theo, trong đó có thiếu tá ĐàyTrách nhiệm tổng quát chỉ huy vụ này là thiếu tướng Thu (?).  
 
Đoàn Thiết giáp lên đến ngôi nhà thờ Chợ Lớn thì hai anh em ông Diệm ngoan ngoãn lên xe (xe M113 thiết giáp). Xe chạy về ngã Saigòn. Đi được chừng 500 thước thì từ phía Sài Gòn chạy ngược lên một đoàn mấy cái xe Jeep, trên đó có thiếu tướng Thu. Khi hai đoàn xe gặp nhau, đậu cách nhau chừng 30 thước, thiếu tướng Thu và đoàn tùy tùng xuống xe. Lúc đó bên đoàn thiết giáp có ý chờ đợi thiếu tướng Thu cho lệnh về việc xử trí với anh em ông Diệm như thế nào. Từ đằng xa họ thấy tướng Thu đưa lên một ngón tay trỏ. Bên đoàn xe thiết giáp dự đoán rằng ông ta ra lệnh giết một trong hai anh em ông Diệm. Họ còn đang ú ớ muốn hỏi lại cho rõ, xem phải giết người nào, thì đồng bào ùa đến xem quá đông. Bên đoàn xe thiết giáp bắt đầu lo ngại về an ninh của anh em ông Diệm cũng như về an ninh của chính họ (Họ nghĩ rằng dư đảng Cần Lao có thể trà trộn giải vây cho anh em ông Diệm, hoặc dân chúng phẫn uất có thể giết chết hai ông này). Họ muốn chạy băng qua để hỏi lệnh cho rõ, nhưng dân chúng vây chặt, không thể nào đi được. 

Khi đó lại thấy tướng Thu đưa lên hai ngón tay (ngón trỏ và ngón giữa) của bàn tay trái, với hai ngón khép lại với nhau, chỉ vào hai ngón tay của bàn tay phải giơ lên. Họ nghĩ rằng ông ra lệnh bắn cả hai anh em ông Diệm. Tôi (thiếu tá Nhung) rút khẩu súng Colt 12, bắn mỗi người 5 phát. Sau đó hăng máu bồi thêm cho ông Nhu 3 phát nữa vào ngực. Đồng thời đoàn xe thiết giáp được lệnh dẹp đường chạy về Bộ Tổng Tham mưu. Cùng lúc, tướng Thu cũng cho đoàn xe quay đầu chạy trước đoàn xe thiết giáp cùng hướng về Bộ Tổng Tham mưu. Trong lúc xe chạy thì thiếu tá Đày cúi xuống lấy cái cặp của ông Diệm, nói là sẽ đem về trình Hội đồng Quân nhân Cách mạng. Dường như trong cặp ấy có nhiều đồ vật, tài liệu quý giá”.

Cuối tờ khai, Thiếu tá Nhung kết luận:
“Tôi chỉ vì hăng say theo lệnh cấp trên mà đã  làm như thế”. Nội trong đêm, sau khi làm tờ khai, Thiếu tá Nhung trong phòng tạm giam ở Bộ Tổng Tham mưu, đã lấy dây giầy của mình thắt cổ tự sát. Tôi (Nguyễn Chánh Thi) được tin, không khỏi ngậm ngùi cho số kiếp của một sĩ quan trung thành với cấp trên, không lường được hậu quả to lớn của việc mình làm, không có ý thức chính trị hướng dẫn, đến khi một mình chịu tội một mình thác oan…” [1].
 
Đoạn trích trên đây có lời tự thuật của thiếu tá Nhung - người được xem là xạ thủ đã giết chết anh em ông Ngô Đình Diệm. Không rõ ông Thi ghi lại bản tự thuật đó có trung thực hay không, vì sau lần tự thuật đó thiếu tá Nhung không còn ở trên đời nên không thể kiểm chứng được. Giả như bản tự thuật đó trung thực thì ta thấy thiếu tá Nhung vào giờ phút nguy nan nhất vẫn rất bình tĩnh:
 
1. Nhận hết trách nhiệm về việc hạ sát anh em ông Ngô Đình Diệm;
2. Khẳng định “không biết gì về quyết định của Hội đồng Quân nhân Cách mạng” để tránh những rắc rối đối với tướng Dương Văn Minh. Tất cả những người có liên quan đến vụ đi bắt và giết anh em ông Diệm đều được khai với những cái tên hoàn toàn không có trong thực tế, về cấp bậc và nhiệm vụ cũng sai để những người nầy khỏi phải bị nêu tên thật trong bất cứ hoàn cảnh nào:  Ví dụ Nhung khai:

-Trung tá Nghĩa chỉ huy đoàn thiết giáp (sự thực là đại úy Dương Hoà Hiệp)
-Thiếu tá Đày sĩ quan ở Bộ Tổng Tham mưu đi theo (trong đoàn không có ai tên là Đày cả, chỉ có thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa (lúc đi bắt ông Diệm, Nghĩa mới đeo lon đại úy); theo Nhung thiếu tá Đày là người “lấy cái cặp của ông Diệm nói là sẽ đem về trình Hội đồng Quân nhân Cách mạng”.
 -Thiếu tướng Thu trách nhiệm tổng quát chỉ huy vụ nầy (sự thực  trong Hội đồng tướng lãnh tham gia đảo chánh không có ai tên là Thu cả mà là thiếu tướng Mai Hữu Xuân - người được tướng Dương Văn Minh cử đi theo dõi đoàn xe “rước anh em tổng thống Diệm”.
Sau ngày chỉnh lý 30.1.1964, có dư luận cho rằng đại tá Thi đã tham gia vào việc đánh đập tra tấn Nguyễn Văn Nhung đến chết. Trong hồi ký, Nguyễn Chánh Thi cho biết:“Sau khi làm tờ khai, thiếu tá Nhung trong phòng tạm giam ở Bộ Tổng Tham mưu, đã lấy dây giầy của mình thắt cổ tự sát”. Và tướng Thi tỏ ra ngậm ngùi thương tiếc: “Tôi được tin, không khỏi ngậm ngùi cho số kiếp của một sĩ quan trung thành với cấp trên, không lường được hậu quả to lớn của việc mình làm, không có ý thức chính trị hướng dẫn, đến khi một mình chịu tội một mình thác oan”.
 
Và cái chết bí ẩn được cho là tự sát bằng dây giày
Tôi (NĐX) không nghĩ  tướng Thi cố ý viết đọan hồi ký nầy để đính chính dư luận nghi ngờ ông đã tham gia vào việc tra khảo Nguyễn Văn Nhung. Vì thế tôi đã tìm gặp bà Huỳnh Thi Nhi vợ góa của thiếu tá Nguyễn Văn Nhung sống với gia đình ở quận 8 TP.Hồ Chí Minh. Bà quả phụ Huỳnh Thị Nhi cho biết: khi được báo tin chồng chết bà đến nhận xác chồng ở Bệnh viện Cộng Hòa, nhưng các bác sĩ pháp y không ai dám xác nhận chồng bà đã chết bằng cách gì. Ngay cả bác sĩ Nicola Võ Minh Kỵ làm giám đốc Bệnh viện Cộng Hòa có bà con với gia đình bà cũng đóng cửa phòng để tránh việc phải xác nhận về cách chết của Nguyễn Văn Nhung. Nếu ông Nhung tự tử bằng dây giày thì việc xác nhận có gì khó khăn đâu để những người có trách nhiệm trong pháp y sợ hãi phải từ chối né tránh đến vậy?
 
Bà Huỳnh Thị Nhi cho biết thêm khi khâm liệm ông Nhung bà thấy trên mặt trên đầu trên thân thể ông có hàng chục vết bầm tím, có vết còn in nguyên dấu đế giày bốt-đờ-xô. Có lẽ Nguyễn Văn Nhung bị trả thù bằng những đòn đấm đá của nhiều người nên các bác sĩ pháp y không dám xác nhận chăng? Bà Nhi khẳng định chồng bà bị tra khảo mà chết chứ không phải tự sát bằng dây giày như đại tá Thi đã viết. Theo báo Dân Ý xuất bản ở Sài Gòn, từ số 140 ngày 01.10.1970 đến số 160 thì thiếu tá Nhung đã “bị đá bể lá lách sau khi ông đã khai tất cả những bí mật trong vụ thanh toán anh em tổng thống Diệm. Lời khai của ông được thâu băng và trao cho tướng Khánh”.
 
Cái chết của anh em ông Ngô Đình Diệm như thế nào báo Hồn Việt số ra mắt (tháng 7-2007) đã đề cập rõ và cái chết của Nguyễn Văn Nhung - người bị dư luận qui kết là thủ phạm đã gây ra hai cái chết trên chưa được bạch hóa. Nguyễn Văn Nhung bị “ép cung” đã phải viết ra bản “cung khai” nêu trên chứng tỏ dư luận qui kết cho Nhung là có cơ sở. Qua bản “cung khai” do kẻ thù của Nhung công bố giúp cho những người quan tâm lịch sử thấy được bản chất “anh hùng hảo hớn” của Nhung. Nguyễn Văn Nhung không phải là một người tầm thường. Người nói đúng được bản chất của Nguyễn Văn Nhung không ai khác là chính đại úy Đỗ Thọ - người đối đầu số 1 của Nguyễn Văn Nhung trước giờ anh em ông Ngô Đình Diệm bị bắt lên xe thiết giáp M113 trước Nhà thờ Cha Tam, Chợ Lớn.
 
Sau khi nghe Nguyễn Văn Nhung bị bắt và bị giết để trả thù cho anh em ông Ngô Đình Diệm, Đỗ Thọ viết trong nhật ký: “Đối với tôi thiếu tá Nhung nổ súng vào đầu tổng thống Ngô Đình Diệm phải vất vả lắm. Thiếu tá Nhung rất can đảm lắm mới dám bắn như thế…Thiếu tá Nhung còn là người “chịu cam số phận”. Đáng ra trong hồ sơ khẩu cung sau ngày chỉnh lý 30.1.64, thiếu tá Nhung phải khai thêm một sĩ quan đồng lõa tên Nghĩa nữa, nhưng không hiểu tại sao thiếu tá Nhung lại không tiết lộ. Phải chăng vị sĩ quan cận vệ của tướng Dương Văn Minh là một anh hùng vì bạn bè. Dù sao một sĩ quan trung thành như thế cũng đáng trọng vậy”  [2]
 
Chú  thích:

[1] Nguyễn Chánh Thi, VIỆT NAM - Một trời tâm sự, Nxb Anh Thư, California (USA) 1987, tr.230-1
[2] “Nhật ký Đỗ Thọ”, Nxb Đồng Nai, SG. 1970, tr.331. Nhân đây cũng xin nói thêm một chút về Đỗ Thọ. Đỗ Thọ nguyên là một phi công lái tàu bay vận tải của quân đội Sài Gòn, được chuyển qua làm sĩ quan tùy viên cho Tổng thống Ngô Đình Diệm. Đỗ Thọ tuyệt đối trung thành và tận tụy với ông Diệm. Sau khi ông Diệm bị bắt và bị giết (2.11.1963), Đỗ Thọ trở lại nghiệp bay. Thọ rất thương tiếc cho cái chết của Tổng thống Diệm và đã thổ lộ tâm sự của mình trong cuốn hồi ký mang tên “Nhật ký Đỗ Thọ”. Ngày 14.2.1964, trong một chuyến bay đón “thủ tướng” Nguyễn Khánh tại Đà Nẵng, Đỗ Thọ đã tử nạn trên không phận Quảng Nam. Năm đó Thọ mới 29 tuổi, chưa có vợ con, chỉ để lại cho gia đình cuốn hồi ký “Nhật ký Đỗ Thọ”. Năm 1970, một người em đã “sưu tầm và xuất bản” tập hồi ký nầy. (Theo Đỗ Mậu, Sđd).

Là một sĩ quan tùy viên, Đỗ Thọ đem hết trí lực để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ Tổng thống Diệm. Cho nên, hơn ai hết Đỗ Thọ hiểu được những khó khăn của sĩ quan tùy viên Nguyễn Văn Nhung trong cố gắng hòan thành lệnh của tướng Dương Văn Minh giao. Đỗ Thọ không thù ghét người đã giết chủ của mình mà ngược lại có lời khen đúng đắn đối với một đồng nghiệp. Bởi vì Nguyễn Văn Nhung không những là người rất can đảm trong nhiệm vụ khó khăn mà còn tỏ ra hào hiệp nhận hết trách nhiệm về mình để  tránh những hệ lụy cho người khác.

Ông Lê Kiên Thành: Điều cha tôi luôn muốn cắt nghĩa

Tôi thì luôn cho rằng, độc quyền kinh tế chỉ là một hiện tượng, chỉ là hệ quả của cơ cấu tổ chức xã hội mà chúng ta đang vận hành.

Xung quanh chủ đề chống độc quyền, tạo môi trường phát triển và cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế trong nền kinh tế thị trường hiện nay, Tuần Việt Nam tiếp tục giới thiệu phần ba bài viết của ông Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng Bí thư Lê Duẩn.
 
Ông Lê Kiên Thành. Ảnh:
Ông Lê Kiên Thành. Ảnh: Minh Trí/ Một Thế giới
 
Như trong các phần trước tôi đã phân tích, nếu chỉ nói về chuyện độc quyền kinh tế thôi, thìĠchúng ta đã nói quá nhiều trong bao năm qua mà mọi thứ vẫn bộn bề.

Tôi thì luôn cho rằng, độc quyền kinh tế ţhỉ là một hiện tượng, chỉ là hệ quả của cơ cấu tổ chức xã hội mà chúng ta đang vận hành. Gốc rễ của vấn đề chính là tư duy độc quyền đã được chúng ta chấp nhận một cách hiển nhiên trong mọi mặt của đời sống này. Và chừng nào không thay đổi được gốc rễ đó,Ġchừng đó chúng ta sẽ vẫn cứ loay hoay…

Tình yêu và thói quen nguy hiểm

Thời tôi còn đi học, tôi luôn được dạy rằng cái ưu việt nhất của CNXH là không có sự độc quyền, cái xấu xa nhất của CNTB là sự độc quyền. Chúng ta tưởng rằng xã hội chúng ta xây dựng là xã hội không có độc quyền. Thế nhưng đến thời điểm này, những khiếm khuyᶿt của một cung cách quản lý bộc lộ và thậm chí kéo theo những hệ lụy ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã hội, lại chính là tư duy độc quyền.

Đến mức, chúng ta “đến” với sự độc qŵyền một cách hiển nhiên, nhẹ nhàng, không cảm thấy áy náy, cũng không bị sự ràng buộc của pháp luật.

Độc quyền không ở đâu xa. Độc quyền xuất hiện từ những cái rất nhỏ bé thế trong đời sống của xã hội chúng ta.

Chúng ta “đến” với sự độc quyền một cách hiển nhiên, nhẹ nhàng, không cảm thấy áy náy, cũng không bị sự ràng buộc của pháp luật.
 
Đã từng có thời chúng ta độc quyền về cách thể hiện văn hóa,Ġấu trĩ đến mức cấm đoán cả việc thể hiện tình yêu, vì cho rằng tình yêu làm ủy mị con người.  Nhưng tình yêu, suy cho cùng, là khởi điểm của sự sống. Tình yêu vừa vĩ đại, vừa trong sáng, vừa ma mị, vừa của thiênĠnhiên, vừa thuộc về con người. Sinh con là việc bắt buộc để duy trì nòi giống. Nhưng để có thể kéo được hai con người đến được với nhau là phải nhờ tình yêu. Cuộc sống tinh vi, tinh vi ghê gớm ở chỗ đó.  Và nhữnŧ tồn tại mạnh mẽ, những tồn tại khiến cuộc sống thăng hoa và sáng tạo đều khởi nguồn từ tình yêu.

Tôi yêu vô cùng những bài hát nói về tình yêu của nước Nga. Trong suốt cuộc chiến tranŨ vệ quốc của họ, họ nói về tình yêu thoải mái, tự do và tràn ngập, không bị cấm đoán. Họ nói về đôi môi, về vóc dáng người yêu…Nếu ở Việt Nam, nói về cái đó, chúng ta bị gọi là xác thịt.  Nhưng đã nói đến tình yêu, phải yêu một bờ vai, một làn môi, một ánh mắt nào đó, chứ không thể chỉ yêu một cái bóng. Thế mà tâm lý xã hội ta đã từng có thời phủ định những cái rất thật, rất cuộc sống đó.

Và tâmĠlý đó có khi còn thể hiện ở những tiêu chí về tổ chức.

Nếu anh không tham gia một tổ chức, anh không thể đảm nhận cương vị nọ kia.  Vì thế, cóĠnhững người có tài quản lý, có năng lực lãnh đạo nhưng sẽ không bao giờ phát huy, hoặc cống hiến được tài năng của họ cho xã hội. Những điều đó đang phản ánh rất rõ hình ảnh của xã hội hiện nay. Và chừng nào chúng ta còn những kiểu tư duy như thế, chừng đdz chúng ta không bao giờ có thể chống độc quyền, dù là độc quyền trong lĩnh vực kinh tế hay bất cứ lĩnh vực khác.

Cái mới hôm qua- cái cũ hôm nay

Thời mới bắt đầu cuộc cách mạng, Lenin có thể sử dụng cả những con người tư sản làm chức vụ cao trong Nhà nước. Ngay cả ở Việt Nam, Bác Hồ cũng thế.

Chức vụ Chính ủy ra đời trong Hồng quân Liên Xô vì rất nhiều nhà lãnh đạo quân sự không phải là đảng viên cộng sản. Những lãnh tụ cộng sản hiểu rằŮg, con người để điều binh khiển tướng, tiến hành cuộc chiến vẫn phải là nhà quân sự chuyên nghiệp, thế nên mới cần những nhà tư tưởng đứng bên cạnh họ.

Nói thế để thấy rằng thời điểm đó,Ġnhững ông tổ của tư tưởng mà chúng ta đi theo hoàn toàn không mang tư duy độc quyền. Sau này, Lenin có những chính sách kinh tế mới mang cả màu sắc của xã hội trước, sử dụng sự ưu việt của xã hội đó. Nghĩa là họ - những lãnh tụ cộng sản đã dám sáng tạo ngšy từ khởi điểm ban đầu của sự sáng tạo cách mạng, chứ không phải đợi đến mãi sau này, khi sự sáng tạo đó đã biến thành cũ kỹ.

Khi cái mới đã trở nên lạc hậu và bộc lộ nhiều nhược điểm Ŷà đòi hỏi buộc phải sáng tạo. Đó là điều mà lớp hậu sinh như tôi khâm phục họ: Những người vừa làm ra một cái mới, một cái mới hãy còn nóng hổi nhưng đã kịp thấy nó cũ và đã kịp thấy cái cần phải thay đổi.
 
Ông Lê Kiên Thành. Ảnh:
Độc quyền kinh tế chỉ là một hiện tượng, chỉ là hệ quả của cơ cấu tổ chức xã hội mà chúng ta đang vận hành. Ảnh minh họa

Cuộc sống và quy luật cái chung- cái riêng

Lúc còn sống, cha tôi luôn muốn cắt nghĩa: Cuộc sống là gì, tồn tại là gì? Vì suy cho cùng tất cả những gì chúng ta làm là để cho cuộc sống tốt lên, để cho tồn tại nó lâu dài hơn.  Cha tôi cho rằng suy cho cùng mỗi con người là một tồn tại, hai vợ chồng là một tồn tại, cả xã hội là một tồn tại.

Nhưng 03 là 01 và 01 cũng phải là 03: 01 con người - 02 vợ chồng - cả xã hội là một khốũ tồn tại thống nhất, nhưng cũng phải là 03 khối tồn tại độc lập trong cái khối thống nhất đó.

Và chúng ta sẽ phải tôn trọng từng cái sự tồn tại đó, phải nhấn mạnh được từng tồn tại đó, đ᷃ bảo vệ sự tồn tại chung, cũng như chúng ta không thể tách rời một tồn tại nào đó với cái khối tồn tại chung đó. Khi chúng ta đang nói đến tập thể, chúng ta phải nói theo cách đó: Muốn cái chung tồn tại, thì những cái riêng này buộc phải tồn tại.

Còn nếu anh xóa đi một trong những phần đó, nếu anh tìm cách o ép một trong những phần đó, thì tự anh đã xóa đi một sự tồn tại và cũng xóa luôn sự tồn tại của cái chung.  Không cần kiến thức cao siêu, chỉ cần hiểu cuộc sống là hiểu được quy luật này. Nếu không nói được liên kết cốt lõi này, thì không hiểu được cuộc sống.

Chúng ta nói tàũ sản này là của nhân dân. Nhưng người dân không hiểu điều đó nếu không được sở hữu nó. Khi chúng ta cổ phần hóa và chia cho người dân, họ sẽ hiểu ngay lập tức.  Một nhà máy hoàn toàn thuộc sở hữu nhà nước, do mộŴ số con người cụ thể điều hành, không nhân dân nào có thể hiểu đó là tài sản của mình.

Người ta phải có quyền thật thì người ta mới cảm nhận được sự sở hữu của mình ở tài sản đó, mới bᶣo vệ, gây dựng tài sản đó bằng tài năng, mồ hôi lao động của mình.
 
Sẽ vô cùng biến dạng nếu một người nào đó chỉ nghĩ đến cá nhân người ta, một người nào đó chỉ nghĩ đến gia đình người ta, hay một nhóm người nào đó chỉ nghĩ đến quyền lợi của nhóm mình, và cho rằng mình sống văn minh hơn người khác. Điều đó là rất không đúng. Chúng ta tiếc thay lại đang chứa đựng những sự "biến dạng" đó trong xã hội mình.
  
Quay lại câu chuyện độc quyền, một con người đang sống là đang.... độc quyền chính bản thân mình. Không ai có thể sống thay mình được. Nhưng con người này nếu không biết tiến đến một cuộc sống gia đình, đẻ ra những đứa con của mình là bản thân họ đang kết thúc cuộc sống.

Đó là cách sống phi tự nhiên. Cuộc sống chỉ tiếp tục nếu anh kết hợp với một người kŨác, sinh ra những đứa con, có trách nhiệm với xã hội đó và nhận những quyền lợi từ mối liên kết này mang lại.

Sẽ vô cùng biến dạng nếu một người nào đó chỉ nghĩ đến cá nhân người ta, mộtĠngười nào đó chỉ nghĩ đến gia đình người ta, hay một nhóm người nào đó chỉ nghĩ đến quyền lợi của nhóm mình, và cho rằng mình sống văn minh hơn người khác. Điều đó là rất không đúng. Chúng ta tiếc thay lại đang chứa đựng những sự "biến dạng" đó trong xã hội mình.

Độc quyền kinh tế chỉ là một khía cạnh của tư duy độc quyền, của khối tồn tại đang bị biến dạng đó và không thể tách rời khỏi những tồn tại khác. Nên cái cần sửa chữa không chỉ lǠ chuyện độc quyền trong kinh tế, mà là sửa chữa cả tư duy.

Còn bây giờ nếu chúng ta cứ nhìn ra một vài hiện tượng độc quyền lẻ tẻ và loay hoay tìm cách tháo gỡ nó, thì chúng ta sẽ giống như những người mải mê bắt sâu trên ngọn cây mà không biết rằng con sâu đã đục khoét cái cây đó từ gốc rễ.

Nếu dàn nhạc không có nhạc trưởng đại tài?

Tôi luôn nghĩ ông Karl Marx, ông Lenin nếu còn sống, với những con người trí tuệ như thế, lý luận của họ nhất định sẽ thay đổi. Nếu còn ųống, họ sẽ lãnh đạo xã hội theo một cách khác. Bởi trong lúc tăm tối nhất của xã hội, họ đã nghĩ ra những cái rất đúng về quy luật cuộc sống.

Thế thì nếu đang sống ở thời đại này, họ sẽ nhìn ra những cái khác.

Bất cứ thời điểm lịch sử ngặt nghèo nào cũng cần có những nhân tố đặc biệt, những cá nhân kiệt xuất có thể mang đến sự thay đổi. Cái xã hội Việt Nam cần bây giờ là những cá nhân như thế: Những người tìm ra được hướng đi mới, đủ sức mạnh, đủ can đảm tổ chức, sắp xếp lại xã hội theo hướng đi đó. Những người tạo ra hệ thống đó, rồi kiểm soát nó và phát triển nó, xử lý những yếu tố phát sinh trong hệ thống đó.
 
Không độc quyền về chân lý, không độc quyền về mục tiêu, về lợi ích, là bí quyết duy nhất cho sự sinh tồn của dân tộc. Và tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi.
  
Một dàn nhạc dù toàn nhạc công giỏi, nhưng không có nghĩa sẽ đánh được một bản giao hưởng hay nếu không có một người nhạc trưởng đại tàiĬ thổi hồn cho bản nhạc. Người nhạc sĩ viết ra bản nhạc hay đã đành, nhưng tạo ra sức sống cho toàn bộ bản nhạc đó phải là người nhạc trưởng, để thính giả cảm nhận được nốt này là lá rơi, nốt kia là gió thổi....

Có những người từng hỏi tôi về sự thay đổi của đất nước và thời điểm của sự thay đổi đó. Sự thay đổi đó có thể là ngày mai, có thể là 100 năm, 200 năm hoặc ... không bao giờ. Điều đó tùy thuộc vào ý chí, bản lĩnh và sự dũng cảm của cả một dân tộc. Trong lịch sử từng có những hiện tượng có những dân tộc đã đi đến sự suy tàn, khi dân tộc không thể thay đổi để tiệm cận với cái mới mang ý nghĩa là cái tiên tiến, cái phát triển của thời đại.

Đã có những đế chế hùng mạnh, những nền văn minh rực rỡ trong lịch sử đã bị hủy diệt một cách ghê gớm. Những ví dụ đó chứng tỏ một điều nếu tổ chức xã hội không tốt, dân tộc có thể đi đến suy tàn.

Không độc quyền về chân lý, không độc quyền về mục tiêu, về lợi ích, là bí quyết duy nhất cho sự sinh tồn của dân tộc. Và tôi mong dân tộc này sẽ chọn được con đường sáng suốt nhất để bước đi.

Bác Hồ với chuyến công du Xuân Canh Dần 1950

Mùa Xuân năm 1950, sau 5 năm chiến đấu và đứng vững trong vòng vây của kẻ thù, cách mạng Việt Nam đã giành được một thắng lợi vô cùng quan trọng. Đó là việc Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ nhân dân công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Góp phần quyết định vào thắng lợi đó, là chuyến công du bí mật sang Trung Quốc và Liên Xô của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên trong Đoàn công tác tại
Trung Quốc, tháng 1/1950. 
Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thành viên trong Đoàn công tác tại Trung Quốc, tháng 1/1950. Ảnh tư liệu/ Bảo tàng Hồ Chí Minh
 
Mục đích của chuyến đi, theo chúng tôi, không chỉ đơn thuần về mặt ngoại giao, mà quan trọng hơn là để giúp các nhà lãnh đạo 2 nước, đặc biệt là Liên Xô, hiểu rõ thực trạng tình hình, cũng như đường lối của Nhà nước Việt Nam, từ đó tiến tới giúp đỡ và hợp tác toàn diện với Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ.

Đề cập đến mục đích chuyến đi này, trong Hồi kýChiến đấu trong vòng vây,Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết:“Cách mạng Việt Nam tiến hành trong một hoàn cảnh rất đặc biệt, đã phải vận dụng những chiến lược, sách lược riêng để tồn tại và đi lên giữa muôn vàn khó khăn, thù trong, giặc ngoài. Có lúc Đảng ta phải tuyên bố “Tự giải tán”. Như lời Bác nói, đây là một giải pháp “đau đớn” mà Đảng ta buộc phải làm. Rồi kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Không riêng mối liên hệ với phong trào cộng sản mà mối liên hệ của ta với thế giới bên ngoài hầu như bị gián đoạn. Kháng chiến đang chuyển qua một khúc ngoặt mới. Ta cần thông báo với phong trào về tình hình cách mạng Đông Dương trong những năm qua cùng với những biến chuyển mới, để tranh thủ sự đồng tình và giúp đỡ, phối hợp”(1)
Để chuẩn bị cho chuyến đi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp viết một bản tường trình về tình hình quân sự ở Việt Nam với yêu cầu“viết ngắn, cần nêu được những vấn đề lớn”“người nghe thông báo sẽ là đồng chí Xtalin”.Trước khi lên đường, ngày 29/12/1949, Bộ trưởng Bộ Tài chính Lê Văn Hiến đã cho người mang đến trao cho Hồ Chí Minh 50 đồng tiền vàng. Đây là số tiền vàng Việt Nam đầu tiên do Sở đúc tiền của Chính phủ ta đúc,“tượng trưng của một hệ thống tiền tệ độc lập”,để Chủ tịch Hồ Chí Minh làm quà tặng trong chuyến công du bí mật ra nước ngoài đầu tiên kể từ ngày Toàn quốc kháng chiến - 19/12/1946.

Ngày 2/1/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời châu Tự Do (Tuyên Quang) lên đường sang Trung Quốc. Cùng đi với Người có đồng chí Trần Đăng Ninh, bác sĩ Chánh, đồng chí Nhất (bảo vệ). Trước đó một ngày, một đoàn cán bộ gồm Lê Phát (bảo vệ, phiên dịch) và Ngô Vi Thiện (điện đài) do đồng chí Lâm Kính phụ trách, đã lên đường làm nhiệm vụ tiền trạm.

Đây là chuyến đi bí mật và cũng đầy nguy hiểm, trong khi quân Pháp vẫn đóng dày đặc dọc biên giới, tàn quân Tưởng Giới Thạch vẫn còn đầy rẫy ở Hoa Nam. Phái đoàn lúc đi bộ, lúc đi ngựa qua những con đường nguy hiểm. Dọc đường, khi quan hệ với các địa phương, đồng chí Trần Đăng Ninh đóng vai Trưởng đoàn. Để giữ bí mật, Hồ Chí Minh luôn dùng một chiếc khăn che kín bộ râu của mình.
Ngày 19/1/1950, đoàn đến Long Châu (Trung Quốc), tiếp đó đáp ôtô đi Nam Ninh, Lai Tân, rồi đáp xe lửa đi Bắc Kinh. Về danh nghĩa, đây là phái đoàn của Trung ương Đảng ta sang thăm Đảng Cộng sản Trung Quốc. Tại đây, phái đoàn đã được Thủ tướng nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai cùng các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc nồng nhiệt đón tiếp. Sau khi làm việc trực tiếp với các nhà lãnh đạo Trung Quốc, tranh thủ được sự ủng hộ của Trung Quốc với Chính phủ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã yêu cầu Đại sứ Liên Xô ở Trung Quốc là Rôxin chuyển lời đề nghị được sang thăm Liên Xô. Sau vài ngày, phía Liên Xô trả lời đồng ý.

Ngày 3/2/1950, Thủ tướng Chu Ân Lai, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trần Đăng Ninh đáp tàu liên vận rời Bắc Kinh, tiếp tục hành trình bí mật sang Mátxcơva.

Theo hồi kýChiến đấu trong vòng vâycủa Đại tướng võ Nguyên Giáp vàHồi kýcủa Khơrúpsốp, thì khi đến Mátxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gặp và làm việc trực tiếp với các nhà lãnh đạo cao nhất của Liên Xô lúc đó như: Xtalin, Khơrúpsốp, Môlôtốp, Kazanôvích…

Trong lịch sử quan hệ ngoại giao Việt Nam - Liên Xô, chuyến đi thăm không chính thức của Hồ Chí Minh có vai trò và ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Đây chính là một cơ hội cực kỳ thuận lợi để Hồ Chí Minh trực tiếp trình bày với các nhà lãnh đạo Liên Xô về tình hình cách mạng Việt Nam; về những chủ trương, biện pháp mà Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính phủ Việt Nam đã tiến hành từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập, nhằm mục đíchgiải tỏa những hiểu lầm và ngộ nhậndo thiếu thông tin, hoặc thông tin không đầy đủ từ phía những nhà lãnh đạo Liên Xô với đường lối chiến lược và sách lược của những người cộng sản Việt Nam, từ đó tiến tới hoàn toàn ủng hộ và trực tiếp viện trợ vật chất cho cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam.

Theo Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trước đó Liên Xô không hiểu rõ nội tình Việt Nam. Sau khi nghe Hồ Chí Minh trình bày, Xtalin đã đồng ý với đường lối chiến lược và sách lược của Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm qua. Nhưng Xtalin cũng phê bình Việt Nam chậm làm cách mạng ruộng đất và ấn tượng về những nhà cách mạng Việt Nam theo chủ nghĩa dân tộc vẫn còn đậm nét trong suy nghĩ của những nhà lãnh đạo Xôviết. Trong một cuộc hội đàm, Xtalin đã chỉ hai chiếc ghế và hỏi Hồ Chí Minh rằng: “Ghế này của nông dân, ghế này của địa chủ, người cách mạng Việt Nam ngồi ghế nào?”(2)

Trong thời gian ở Mátxcơva, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn có những cuộc gặp với đại diện Đảng Cộng sản Pháp và nhiều tổ chức quốc tế để tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đối với cuộc chiến đấu chính nghĩa vì độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam.

Đầu tháng 3/1950, Hồ Chí Minh rời Mátxcơva đến Bắc Kinh, Trung Quốc, tiếp tục hội đàm với Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai. Ngày 11/3/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh lên đường về nước, kết thúc chuyến thăm bí mật Trung Quốc và Liên Xô.

Chuyến đi thăm Trung Quốc, Liên Xô đầu năm 1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đem lại kết quả cụ thể cho cuộc kháng chiến ở Việt Nam. Đó là việc các nhà lãnh đạo hai nước đồng ý viện trợ quân sự và vật chất cho Việt Nam kháng chiến. Về việc này, trong hồi kýChiến đấu trong vòng vâycủa Võ Nguyên Giáp cho biết: Trước mắt Liên Xô viện trợ cho Việt Nam một trung đoàn pháo cao xạ 37 ly, một số xe vận tải Môlôtôva và thuốc quân y. Trung Quốc sẽ trang bị vũ khí cho một số đại đoàn bộ binh và một đơn vị pháo binh, sẽ đảm nhận việc vận chuyển hàng viện trợ của Liên Xô cho Việt Nam. Trung Quốc sẽ cử cố vấn quân sự sang giới thiệu những kinh nghiệm chiến đấu của Giải phóng quân và đồng ý cho Việt Nam đưa trường Lục quân sang tỉnh Vân Nam để đào tạo và bổ túc cán bộ.
Việc Trung Quốc và Liên Xô viện trợ cho Việt Nam là sự ủng hộ kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi để chúng ta đẩy cuộc kháng chiến lên giai đọan phát triển mới, mà trước hết là thắng lợi của Chiến dịch Biên giới 1950.

Trong lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam, chiến thắng Biên giới có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng. Thắng lợi của Chiến dịch Biên giới chính là sự phá vây trên thực tế, là cộng hưởng kết quả của những nỗ lực ngoại giao mà Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã kiên trì tiến hành từ đầu cuộc chiến. Từ đây, Việt Nam đã có đủ điều kiện để tiếp nhận một cách thuận lợi sự giúp đỡ cần thiết về mọi mặt, đặc biệt là những hàng hóa có ý nghĩa chiến lược về quân sự và kinh tế của Trung Quốc, Liên Xô và các nước dân chủ cho cuộc kháng chiến. Từ đó, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng, nâng cao năng lực chiến đấu của các lực lượng vũ trang, đồng thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế kháng chiến và củng cố niềm tin của nhân dân vào thắng lợi của cuộc kháng chiến với đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “Lừng lẫy non sông, chấn động địa cầu” năm 1954.
Có thể khẳng định rằng, chuyến công du không chính thức của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào mùa Xuân 65 năm trước đã làm cho Liên Xô và Trung Quốc hiểu rõ hơn bản chất của cách mạng Việt Nam và sự uyển chuyển ở chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương trong tiến trình cách mạng, mà cụ thể là cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Từ Việt Bắc qua Bắc Kinh đến Mátxcơva và ngược lại, bằng tài ngoại giao xuất chúng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm cho hai nước dân chủ lớn nhất là Liên Xô và Trung Quốc đồng ý viện trợ, thiết lập mối quan hệ tay ba Việt - Xô - Trung mang tầm chiến lược, có ảnh hưởng to lớn đến cách mạng Việt Nam sau này. Đồng thời, giúpnhân dân Pháp và bạn bè quốc tế hiểu rõ hơn về cách mạng Việt Nam với một phong trào ủng hộ Việt Nam kháng chiếnngày càng lan rộng, đưa nước ta lên một vị thế mới trên trường quốc tế, ngang hàng trong "đại gia đình dân chủ thế giới".

Chuyến công du sang Trung Quốc và Liên Xô đầu năm 1950 của Người dù không chính thức, nhưng thể hiện việc lựa chọn phương án ngoại giao phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Hiệu quả của chuyến đi không chỉ đạt được về mặt vật chất mà còn đưa Việt Nam đến với bạn bè quốc tế. Đó chính là một nghệ thuật trong chính sách đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Qua sự kiện này, chúng ta càng thấy rõ vai trò đặc biệt quan trọng, không thể thay thế của Nhà ngoại giao kiệt xuất Hồ Chí Minh vào những thời điểm có tính chất bước ngoặt của cách mạng Việt Nam.Một chuyến công du mùa Xuân - Chuyến công du nâng tầm đất nước!./.


Chú thích:
(1), (2): Võ Nguyên Giáp:Chiến đấu trong vòng vây (hồi ký),NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995, trang 408, 412).

Tướng lĩnh Việt Nam Cộng hòa trong những màn phù phép của CIA

LTS: Cuộc đảo chính ngày 1-11-1963 đã kết thúc chương đầu tiên trong lịch sử can thiệp của Mỹ vào miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, Mỹ đã không từ bỏ mưu đồ để rồi phải nếm thêm "trái đắng" ở chương can thiệp tiếp theo.

Những thất bại nặng nề mà Mỹ gánh chịu đã bị phơi bày qua các tài liệu do Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) giải mật, được sử gia T.A-hơn (Thomas L.Ahern, Jr.) tổng hợp trong cuốn sách có nhan đề  “CIA and the Generals” (CIA và các tướng lĩnh). Báo Quân đội nhân dân xin trích giới thiệu một số nội dung chính trong cuốn sách này.
Kỳ 1: “Một cổ hai tròng”
Có một thực tế rõ ràng, đó là sau cuộc đảo chính dẫn tới cái chết của Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, CIA thật sự gặp rất nhiều khó khăn không chỉ từ việc bị Tòa đại sứ "kiểm soát" mà còn do tình hình rối ren của Sài Gòn khi các tướng lĩnh đấu đá lẫn nhau để tranh giành quyền lợi.
Tướng Nguyễn Khánh (bên phải) trong cuộc họp báo  ngày 30-1-1964. Ảnh tư liệu
Tướng Nguyễn Khánh (bên phải) trong cuộc họp báo  ngày 30-1-1964. Ảnh tư liệu
“Anh em” đối đầu
Cho đến trước khi Ngô Đình Diệm bị sát hại, Tổng thống G.Ken-nơ-đi (John F.Kennedy) đã tăng nhân sự Mỹ từ con số 875 lên 16.000 người, trong đó nhân sự CIA hoạt động tại Trạm Sài Gòn khoảng 200 người và đóng vai trò lớn trong lịch sử ngắn ngủi của chế độ chính trị miền Nam Việt Nam. Vậy nhưng, thế sự đã đổi thay khó lường!
Chỉ một ngày sau đảo chính, ông Bùi Diễm, một chính trị gia gốc đảng Đại Việt có nhiều quan hệ với CIA cho CIA biết, các tướng đảo chính sẵn sàng nghe khuyến nghị của CIA trong việc xây dựng "chế độ mới". Tuy nhiên, Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn C.Lốt-giơ (Cabot Lodge) không muốn CIA quan hệ quá cận kề với các ông tướng. CIA không còn được toàn quyền tự do hành động mà tất cả đều phải do Tòa đại sứ đóng vai trò chủ chốt. Một quy tắc mà Đại sứ C.Lốt-giơ đưa ra bắt buộc ai cũng phải thuộc nằm lòng là "chỉ được triển khai chiến thuật chứ không được tham gia hoạch định chiến lược". Trong khi đó, theo các báo cáo hằng ngày CIA gửi về trụ sở ở Lang-li (bang Vơ-gi-ni-a) thì sau đảo chính, không khí chính trị Sài Gòn rất bấp bênh.
Ngày 4-11-1963, do sự khẩn khoản của tướng Trần Văn Đôn, Đại sứ C.Lốt-giơ “cho phép” CIA báo cáo với tướng Dương Văn Minh về các chương trình bí mật mà CIA đang tiến hành và CIA muốn tận dụng cơ hội này cố vấn cho tướng Dương Văn Minh về một số vấn đề chính trị. Dẫu vậy, Đại sứ C.Lốt-giơ chỉ “cho phép” CIA cố vấn trong lĩnh vực tình báo và an ninh.
Ngày 5-11-1963, Trưởng phân cục Viễn Đông CIA U.Côn-bi (William Colby) đến Sài Gòn và có nhiều cuộc tiếp xúc chính trị với các tướng lĩnh. Qua chuyến công tác, ông U.Côn-bi báo cáo về Trụ sở rằng Đại sứ C.Lốt-giơ muốn chỉ huy mọi chuyện ở Sài Gòn theo ý mình. Giữa lúc đó, sáng 22-11-1963, Tổng thống G.Ken-nơ-đi bị ám sát tại TP Đa-lát (bang Tếch-dớt). Tổng thống L.Giôn-xơn (Lyndon B. Johnson) lên thay, quyết định giải quyết tình trạng bế tắc trong quan hệ giữa Tòa đại sứ và CIA ở Sài Gòn, trước lo ngại uy tín của chính quyền Oa-sinh-tơn sẽ bị tổn hại khi năm 1964-năm bầu cử tổng thống Mỹ, đang đến gần.
Ngày 2-12-1963, đích thân Tổng thống L.Giôn-xơn chọn P.Xin-va (Peer de Silva) làm Trưởng trạm CIA tại Sài Gòn thay thế G.Ri-chớt-xơn (John Richardson) về nước từ tháng 10-1963. Vào đêm trước khi bay sang Sài Gòn, P.Xin-va được Tổng thống Mỹ triệu tập đột xuất để dặn dò ông cẩn thận, tránh đối đầu với Đại sứ C.Lốt-giơ. Ngày 7-12, Tổng thống L.Giôn-xơn đánh điện cho Đại sứ C.Lốt-giơ với lời dặn rằng ông mong muốn có mối quan hệ tốt đẹp giữa Trưởng trạm CIA với Đại sứ: "Điều quan trọng trước tiên là giữa ông và ông ấy phải hoàn toàn hiểu nhau và hợp tác với nhau... Tôi không chỉ quan tâm đến sự hợp tác hiệu quả lâu dài mà còn muốn tránh để xảy ra những cuộc cãi vã ồn ào trên mặt báo".
Ai hơn ai?
Trước tình hình đó, các tướng Sài Gòn vẫn không ngừng chia rẽ và hất cẳng nhau. Giữa tháng 12-1963, tướng Dương Văn Minh thuyên chuyển tướng Nguyễn Khánh ra Vùng I chiến thuật ở Đà Nẵng. Đầu tháng 1-1964, tướng Dương Văn Minh tự phong làm Tổng tư lệnh quân đội. Theo nhận định của CIA, chỉ có tướng Dương Văn Minh là “có ấn tượng của một nhà lãnh đạo có khả năng liên kết nhóm tướng lĩnh võ biền với giới chính khách dân sự lại với nhau”. Nhưng tướng Dương Văn Minh bị cho là "yếu đuối, ngây thơ về chính trị, nên có thể dễ dàng bị cấp dưới lật đổ".
Trong khi đó, Trưởng trạm CIA P.Xin-va vừa đến Sài Gòn đã được tướng Nguyễn Khánh săn đuổi ráo riết. P.Xin-va không muốn dính sâu vào chuyện đấu đá của các tướng nên lần lữa hẹn đến cuối tháng 1-1964, để rồi sau đó hủy cuộc hẹn do bị Đại sứ C.Lốt-giơ cấm! Tướng Khánh lập tức quay sang tiếp xúc với Đại tá G.Uyn-xơn (Jasper Wilson) thuộc Phái bộ viện trợ quân sự tại Việt Nam (MACV). Cuộc họp giữa G.Uyn-xơn với tướng Nguyễn Khánh nhận được cái gật đầu đồng ý của Đại sứ C.Lốt-giơ. Tại đây, tướng Nguyễn Khánh thông báo thành phần 5 tướng trong vụ án "các sĩ quan Đà Lạt", còn gọi là "nhóm tướng trung lập", gồm: Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Lê Văn Kim, Mai Hữu Xuân và Nguyễn Văn Vỹ, với cáo buộc nhóm tướng lĩnh này "âm mưu câu kết với người Pháp trung lập hóa miền Nam Việt Nam".
Vào lúc 15 giờ 15 phút ngày 30-1-1964, Đại tá G. Uyn-xơn từ Bộ chỉ huy Lữ đoàn Dù thông báo với Tòa đại sứ rằng, tướng Nguyễn Khánh cùng tướng Trần Thiện Khiêm sẽ làm đảo chính trong vòng vài giờ nữa để loại các tướng trung lập ra khỏi thành phần chính phủ, và rằng tướng Dương Văn Minh đã được thông báo và đồng ý. 20 phút sau, Phó đại sứ Đ.Nét (David Nes) triệu tập Trưởng trạm CIA P.Xin-va đến Tòa đại sứ để thông báo. "Nhóm tướng trung lập" cuối cùng bị đưa lên Đà Lạt giam lỏng trong khi tướng Dương Văn Minh được giữ lại làm Quốc trưởng.
Câu hỏi đặt ra đối với CIA là giúp tướng Dương Văn Minh, rồi giúp tướng Nguyễn Khánh, Mỹ có làm cho các tướng đoàn kết với nhau và có huy động được sự ủng hộ của quần chúng miền Nam trong công cuộc chống “Việt Cộng” hay không? Câu trả lời là “không”. Chính vì vậy, CIA cam kết ủng hộ tướng Nguyễn Khánh, nhưng đồng thời vẫn tiếp tục duy trì tất cả các quan hệ với các nhóm chính trị đối lập, như đảng Đại Việt. Theo CIA, mọi nỗ lực của Mỹ đối với Ngô Đình Diệm trong năm 1955, cũng như sau này đối với tướng Dương Văn Minh, tướng Nguyễn Khánh chỉ có kết quả kéo dài một tình trạng không tránh được là sụp đổ.

Những bức điện lịch sử trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975

Cách đây đúng 40 năm, cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước...

...Trong suốt quá trình chiến đấu, khắp các mặt trận đều thường xuyên, liên tục nhận được những bức điện chỉ đạo rất nhanh nhạy, sáng suốt, kịp thời của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh, góp phần cổ vũ, động viên cán bộ, chiến sĩ quyết tâm giành được thắng lợi cuối cùng.

Những bức điện lịch sử trong cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa xuân năm 1975
10h45' ngày 30/4/1975, xe tăng quân giải phóng húc đổ cổng dinh Độc Lập cùng bộ đội tiến vào bắt sống Tổng thống ngụy Dương Văn Minh và toàn bộ nội các chính quyền Sài Gòn, kết thúc Chiến dịch Hồ Chí Minh (Ảnh tư liệu Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam).
 
…Tây Nguyên, rồi Trị Thiên – Huế, Đà Nẵng thất thủ đã làm cho những tấm lá chắn của quân ngụy ở phía Bắc đã bị phá toang. Con đường chiến thắng của quân ta dẫn tới sào huyệt cuối cùng của chế độ Sài Gòn đang mở rộng.

Ngay trước khi giải phóng hoàn toàn Đà Nẵng, chiều 29 tháng 3 năm 1975, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn gửi điện cho Trung ương Cục miền Nam: “…Tình hình biến chuyển mau lẹ. Cuộc cách mạng miền Nam đang bước vào giai đoạn phát triển nhảy vọt... Trên thực tế, có thể coi chiến dịch giải phóng Sài Gòn đã bắt đầu từ đây”.[1]

Sáng ngày 31 tháng 3 năm 1975, tại Hà Nội, Bộ Chính trị họp mở rộng. Đây là cuộc họp lịch sử bàn về đòn chiến lược thứ ba, đòn cuối cùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy. Không khí phấn khởi tràn ngập “Nhà con rồng" – (tức phòng họp của Bộ Tổng Tư lệnh xây dựng trên nền Điện Kính thiên trong khu di tích Hoàng thành Thăng Long – BT), những nét mặt rạng rỡ, những ánh mắt sáng ngời, những cái bắt tay hứa hẹn...

Sau khi phân tích kỹ tình hình chiến trường, Hội nghị nhất trí nhận định những nhân tố mới đã xuất hiện rõ nét trong trận Đà Nẵng. Ta hơn hẳn địch cả về thế chiến lược lẫn lực lượng quân sự, chính trị. Dù Mỹ có tăng viện cũng không thể cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn. Bộ Chính trị khẳng định quyết tâm thực hiện tổng công kích, tổng khởi nghĩa trong thời gian sớm nhất. Phương thức tác chiến chiến lược của ta là phát huy sức mạnh của ba đòn chiến lược (chủ lực, nông thôn và thành thị), từ ngoài đánh vào, kết hợp với lực lượng tại chỗ từ trong đánh ra, lấy chủ lực từ ngoài đánh vào là quyết định, tập trung lực lượng tiến công địch, nhanh chóng lợi dụng thời cơ, dồn dập phát triển thắng lợi…

Sau hội nghị, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn điện ngay vào chiến trường: "...Cách mạng nước ta đang phát triển với nhịp độ "một ngày bằng hai mươi năm". Do vậy, Bộ Chính trị quyết định: Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện Tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không để chậm. Phải hành động thần tốc, táo bạo, bất ngờ. Phải tiến công ngay lúc địch hoang mang, suy sụp. Tập trung lực lượng lớn hơn nữa vào những mục tiêu chủ yếu trên từng hướng, trong từng lúc”.[2]

Từ cuộc họp ngày 31 tháng 3 năm 1975, số phận của chế độ Sài Gòn đã được định đoạt. Quyết tâm của Bộ Chính trị cổ vũ mạnh mẽ nhiệt tình cách mạng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

Ngày 7 tháng 4 năm 1975, căn cứ tin tức từ các mặt trận báo về, Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp ra lệnh cho các đơn vị đang đổ vào chiến trường: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng”.[3]

Đến ngày 14 tháng 4 năm 1975, thể theo đề nghị của Bộ Chỉ huy chiến dịch tấn công vào Sài Gòn – Gia Định và nguyện vọng của đồng bào, chiến sĩ cả nước, trong bức điện số 37-TK, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn thay mặt Bộ Chính trị đã đáp ứng kịp thời ý nguyện thiết tha và thiêng liêng ấy: "Đồng ý Chiến dịch Sài Gòn lấy tên là Chiến dịch Hồ Chí Minh".[4]

Vậy là kể từ ngày 14 tháng 4 năm 1975, trận quyết chiến chiến lược cuối cùng kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm được vinh dự mang tên vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

Trong suốt quá trình phát động cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân 1975, thực hiện truyền thống nhân nghĩa “lấy trí nhân thay cường bạo”, “đánh kẻ chạy đi, chứ không đánh người chạy lại” của dân tộc ta, nên Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương luôn nhắc nhở các cánh quân phải thực hiện đúng chế độ nhân đạo đối với tù binh và hàng binh của địch. Trong bức điện của Ban Bí thư, ngày 18 tháng 4 năm 1975 đã nhấn mạnh: “…Các loại binh lính sĩ quan của địch đã bỏ ngũ về nhà, về hưu, giải ngũ, trình diện, thì coi như dân thường… Những tên là lính và hạ sĩ quan nếu đã cải tạo tốt có quê ở vùng giải phóng thì cho về với gia đình”.[5] Cũng chính nhờ có chính sách nhân đạo và khoan dung này đã góp phần làm lung lạc, giảm sút tinh thần chiến đấu của quân ngụy.

Để chuẩn bị cho những trận đánh cuối cùng, từ tháng 1 đến tháng 4 năm 1975, Đoàn vận tải Trường Sơn vận chuyển vào Nam Bộ 115.000 quân và 90.000 tấn hàng (trong đó có 37.000 tấn vũ khí, 9.000 tấn xăng dầu). Riêng trong những ngày "chuẩn bị nước rút" từ ngày 5 đến ngày 26 tháng 4, vừa khai thác vừa vận chuyển, ta đã đưa vào chiến trường 10.100 tấn đạn, 2.300 tấn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, 2.600 tấn xăng dầu... Nhiều trạm sửa chữa ô tô, sửa chữa pháo và tăng được bố trí dọc đường, phục vụ cơ động của chiến dịch. Trong giai đoạn cuối cùng của chiến tranh, nổi lên tác dụng to lớn của hậu cần tại chỗ. Trục đường 14 từ Đồng Xoài đi Cây Gáo, Bến Bầu được gấp rút thi công. Các đoàn quân hậu cần ở các hướng củng cố và mở rộng tuyến đường chiến dịch với tổng chiều dài hơn 3.000 ki-lô-mét. Đặc biệt, trong những ngày hạ tuần tháng 4, hậu cần Miền đã đưa 10.000 cán bộ, chiến sĩ từ tuyến sau lên thành lập 8 tiểu đoàn cơ động, huy động gần 4.000 xe vận tải, hơn 600 thuyền máy, ca nô, hàng nghìn xe đạp thồ và hơn 60.000 dân công hỏa tuyến, lập 15 bệnh viện dã chiến, 17 đội điều trị với tổng số 10.000 giường, phục vụ bộ đội tiến công Sài Gòn - Gia Định.[6]
Chấp hành chỉ thị của Bộ Chính trị, Bộ Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh khẩn trương hoàn chỉnh kế hoạch tác chiến trên cơ sở phương án cũ đã được Trung ương Cục thông qua.

Thế trận tại chỗ đã bày xong. Ngày 22 tháng 4 năm 1975, lần cuối cùng, kế hoạch tiến công Sài Gòn - Gia Định được Đảng ủy và Bộ chỉ huy Chiến dịch Hồ Chí Minh thông qua và phê duyệt.

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, Bộ Chính trị họp, giữa lúc công việc chuẩn bị mọi mặt từ Bộ thống soái tối cao đến Bộ tư lệnh và các đơn vị ở chiến trường trọng điểm cơ bản đã hoàn thành. Năm mục tiêu quan trọng đã được Bộ chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh xác định là: sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng tham mưu ngụy, dinh Tổng thống ngụy quyền, Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát.

Sau khi kiểm tra lại lần cuối việc chuẩn bị cho trận đánh quyết định, cuộc họp kết thúc trong không khí náo nức, phấn khởi, quyết tâm, sẵn sàng đón tin chiến thắng.

Giờ phút quyết định đã điểm. Chiến trường Nam Bộ bùng lên như một cơn lốc.

Theo kế hoạch, 5 giờ 30 phút sáng 30 tháng 4 năm 1975, các hướng đồng loạt đánh vào Sài Gòn. Đến 10 giờ 45 phút ngày 30 tháng 4, xe tăng 390 đã húc tung cánh cổng chính của dinh Độc Lập - sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn. 11 giờ 30 phút cùng ngày, Trung úy Quân đội Nhân dân Việt Nam Bùi Quang Thận đã hạ lá cờ Việt Nam Cộng hòa trên nóc dinh Độc Lập, kéo lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lên. Cùng lúc này, Tổng thống cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa là Dương Văn Minh và toàn bộ những nhân vật chủ chốt của nội các chính quyền Sài Gòn có mặt đầy đủ trong dinh Độc Lập đã bị quân giải phóng bắt sống. Tổng thống ngụy Dương Văn Minh đã phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện trước quân đội cách mạng (tức quân Giải phóng miền Nam Việt Nam). Chiến tranh kết thúc.

Từ thủ đô Hà Nội, nhận được tin chiến thắng, thay mặt Bộ Chính trị Trung ương Đảng, đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã gửi ngay bức điện khen ngợi: “Toàn thể cán bộ, chiến sĩ tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh cùng đồng bào Sài Gòn – Gia Định thân mến. Bộ Chính trị Trung ương Đảng nhiệt liệt khen ngợi quân và dân Sài Gòn – Gia Định, khen ngợi toàn thể cán bộ và chiến sĩ, đảng viên và đoàn viên, thuộc các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, bộ đội tinh nhuệ, dân quân tự vệ đã chiến đấu cực kỳ anh dũng, lập chiến công chói lọi, tiêu diệt và làm tan rã lực lượng lớn quân địch, buộc ngụy quyền Sài Gòn phải đầu hàng không điều kiện, giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định, đưa chiến dịch lịch sử mang tên Bác Hồ vĩ đại đến toàn thắng. Toàn thể các đồng chí hãy nêu cao tinh thần quyết thắng cùng đồng bào tiếp tục tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam thân yêu của Tổ quốc”.[7]

Vậy là sau 5 ngày chiến đấu liên tục (từ 26 đến 30/4/1975), chiến dịch Hồ Chí Minh đã giành toàn thắng, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thu về một mối.

Nếu tính từ ngày 4 tháng 3 năm 1975, khi quân ta bắt đầu nổ súng ở Playcu trong hoạt động nghi binh chiến lược giải phóng Tây Nguyên cho đến ngày toàn thắng 30 tháng 4 năm 1975, thì toàn bộ cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam đã diễn ra trong 55 ngày đêm, thật là một sự trùng hợp kỳ lạ với 55 năm ngày đêm của Chiến dịch Điện Biên Phủ cách đó 21 năm. Vậy là hai chiến dịch có hai cách đánh khác nhau. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, phương châm là “đánh chắc, tiến chắc”, thì trong Chiến dịch Hồ Chí Minh, phương châm là “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”. Dù là hai cách đánh khác nhau nhưng đều đi đến thắng lợi cuối cùng đánh đổ hai thực dân đế quốc hùng mạnh nhất lúc bấy giờ là Pháp và Mỹ. Đó là minh chứng hùng hồn cho chủ nghĩa anh hùng cách mạng; truyền thống đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam; quyết không cam chịu làm nô lệ; quyết đánh đuổi giặc ngoại xâm giành độc lập tự do cho dân tộc.

Sự kiện chiến thắng 30 tháng 4 năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã một lần nữa chứng minh chân lý bất hủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”.

–––––––––––––
Chú thích:
[1], [2], [4], [7]: Theo Đảng Cộng sản Việt Nam - Văn kiện Đảng toàn tập (tập 36: năm 1975), Nxb Chính trị quốc gia, năm 2004;
[5]: Theo “Lịch sử tư tưởng Quân sự Việt Nam (tập 4: từ 1945 đến 1975)”, Nxb Chính trị quốc gia, năm 2014.
[3], [6]: Theo Hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân đại thắng” của Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Nxb Quân đội nhân dân, năm 2006;