Pages

Monday, 15 February 2016

Những nhân chứng phương Tây về chủ quyền Hoàng Sa

Gần như các nhà buôn, nhà tu, nhà thám hiểm phương Tây giai đoạn từ thế kỷ 16 đến 19 đều xác định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là "của Hoàng đế An Nam" và "không ai tranh chấp".

Thế kỷ 15, các nhà truyền giáo, nhà buôn đã đặt chân đến "phương Đông huyền bí". Tại Việt Nam, các thương điếm, thương cảng cho nhà buôn châu Âu đã mọc lên ở Đàng trong và Đàng ngoài. Những ghi chép của phương Tây thời kỳ đó về các nước châu Á góp phần soi rọi lại sự thật lịch sử: Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam.

 
Thương thuyền đi qua biển Đông của Việt Nam- ảnh vẽ của John White
Thương thuyền đi qua biển Đông của Việt Nam- ảnh vẽ của John White

Hoàng Sa - Trường Sa trong cuộc tìm kiếm thuộc địa

Năm 1494, Giáo hoàng Alexandre VI đã phân chia cho hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha các vùng ảnh hưởng trên thế giới và được chính thức hóa bằng hiệp ước Tordesillas.

Các thương thuyền của Bồ Đào Nha đã đi về phương Đông thiết lập cơ sở cho cuộc chinh phục lâu dài. Năm 1511, Bồ Đào Nha thiết lập thương điếm ở Ma Cao, tới năm 1557 biến nơi đây thành thuộc địa. Từ đây các thương thuyền qua lại biển Đông. Các nhà hàng hải Bồ Đào Nha đã có những chuyến thám hiểm biển Đông.

Nhà hàng hải Bồ Đào Nha Fernao Mendes Pinto cũng là một giáo sĩ Dòng Tên đã ghi chép lại chuyến du hành năm 1545 qua cuốn sách du ký mang tên Peragrinacao, được xuất bản tại Lisbon năm 1614.

Trong cuốn sách Pinto đã mô tả về quần đảo Hoàng Sa khá chi tiết, ông gọi đó là Pulo Pracelar.  Theo tiếng Bồ Đào Nha, Pracelar nghĩa là san hô, Pulo có nghĩa là cù lao.

Trên con đường các nhà truyền giáo theo các thương thuyền đi truyền đạo ở Đàng ngoài của Việt Nam, họ đã gặp trở ngại vì các bãi đá ngầm ở biển Đông. Bồ Đào Nha đã thúc đẩy nhiều cuộc khảo sát khác vào nửa sau thế kỷ 16 và đã xác định được một dãy cao tầng bãi đá ngầm rất nguy hiểm. Tọa độ của nó chính là Hoàng Sa và Trường Sa ngày nay.

Bước sang thế kỷ thứ 17, người Bồ Đào Nha đã mất thế độc quyền ở biển Đông. Một số quốc gia phương Tây khác đã bứt phá lên, bắt đầu xuất hiện, tăng cường sự có mặt trên biển Đông. Địch thủ lớn nhất của Bồ Đào Nha là Hà Lan, sau đó là Anh và Pháp. Các hoạt động hàng hải của Hà Lan, Anh và Pháp chủ yếu dựa vào những công ty thương mại quốc tế, được nhà nước ủy quyền và bảo trợ.

Sang thế kỷ thứ 18, những cuộc khảo sát Biển Đông của công ty Đông Ấn được tiến hành rất kỹ lưỡng. Các cuộc thám hiểm, đo đạc của phái bộ Kergariou - Locmacria vào những năm 1778 - 1787 trên biển Đông đã giúp hiểu rõ hơn, không còn đầy sợ hãi hay phủ đầy huyền thoại như trước đây. Các chuyến hải trình đã tránh được nhiều nguy hiểm và đã an toàn hơn.
 
Thuyền buôn châu Âu tại cửa Hội An thế kỷ 17
Thuyền buôn châu Âu tại cửa Hội An thế kỷ 17
 
Người Pháp qua các hoạt động của các giáo sĩ, thương gia đã quan tâm và hiểu biết nhiều về Việt Nam. Giám mục Pigneau de Béhaine, đã nắm rõ tình hình chính trị của Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài từ khi phân tranh đến lúc thống nhất.

Trong nhật ký của chiếc tàu Amphitrite chở các giáo sĩ Pháp đi qua quần đảo Paracels (tức Hoàng Sa) năm 1701 có ghi lại như sau: "Người ta cho tàu nhổ neo, gió rất tốt. Và sau đó một thời gian đi đến mỏm đá Paracels. Paracels là một quần đảo thuộc về nước An Nam. Đó là một bãi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, rất nhiều lần đã xảy ra các nạn đắm tàu ở đó".

Những nhân chứng phương Tây

Nhân vật Jean Baptiste Chaigneau (1769 - 1825), được vua Gia Long đặt tên Việt là Nguyễn Văn Thắng và phong là Thắng Toàn Hầu. Cuốn hồi ký của ông mang tên "Le mémoire sur la Cochinchine" có đoạn viết: "Nước Cochinchine (tức An Nam) mà nhà vua bây giờ xưng đế hiệu Hoàng đế gồm xứ Đàng Trong, xứ Đông Kinh, một phần xứ Cao Miên, một vài đảo có dân cư không xa bờ bể và quần đảo Paracels hợp thành bởi những đảo nhỏ, đá ngầm và mỏm đá không dân cư. Chỉ đến năm 1816 đương kim Hoàng đế mới lấy chủ quyền trên quần đảo ấy".

Ghi chép của giám mục Jean Louis Taberd trong cuốn biên khảo "Univers, historire et description de tous les peuples..."  xuất bản năm 1833 tại Paris ghi rõ: "Chúng tôi không đi vào việc kê khai những hòn đảo chính yếu của xứ An Nam. Chúng tôi chỉ xin lưu ý rằng, từ hơn 34 năm nay quần đảo Paracels mà người Việt gọi là Cát vàng hay Hoàng Sa, cũng có nghĩa là cát vàng, gồm rất nhiều hòn đảo chằng chịt với nhau, lởm chởm những đá nhô lên giữa những bãi cát làm cho những kẻ đi biển rất e ngại đã được chiếm cứ bởi người Việt xứ Đàng Trong".

Ở một đoạn khác, vị giám mục này khẳng định: "Hoàng đế Gia Long chính thức khẳng định chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa năm 1816".

Trong cuốn tự điển Việt - Latinh nhan đề "Latino - Anamiticum" của giám mục Taberd xuất bản năm 1838 có in bản đồ trên loại giấy chuyên dùng in họa đồ khổ 80 x 44 (cm). Nhan đề bản đồ là "An Nam đại quốc họa đồ" in bằng 3 thứ tiếng Latinh, Quốc ngữ và chữ Hán.

Thuyền buôn châu Âu tại cửa Hội An thế kỷ 17
An Nam Đại Quốc Hoạ Đồ của Giám mục Taberd xuất bản năm 1838 khẳng định Paracels (Cát Vàng, Hoàng Sa) nằm trong vùng biển Việt Nam.
 
Có thể nói "An Nam đại quốc họa đồ" là một tài liệu phản ánh sự tổng kết về hiểu biết, khám phá sâu sắc và chính xác của người phương Tây từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19 về quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của nước Việt Nam. Trong quyển từ điển và bản đồ đã ghi chép về những khảo sát, nghiên cứu tường tận của nhiều thế hệ nghiên cứu phương Tây về Việt Nam và quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Theo "An Nam đại quốc họa đồ", tại biển Đông không hề có đảo Hải Nam của Trung Quốc mà chỉ có những đảo của Việt Nam. Paracels chính là địa danh người phương Tây chỉ quần đảo Hoàng Sa trên biển Đông suốt từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Trong bản đồ này ghi chú "Paracels Seu Cát Vàng".

Những ấn phẩm khảo sát, nghiên cứu của phương Tây về Hoàng Sa và Trường Sa không chỉ bằng tiếng Pháp, tiếng Bồ Đào Nha mà còn cả tiếng Anh khá phong phú. Tờ The Journal of Asiatic Society of Bengal của người Anh ở Bengal số 6 và 7 trong chuyên đề về Hoàng Sa có đoạn: "Pracel hoặc Paracels, tuy rằng tại các quần đảo này không có gì ngoài đá tảng và những cồn lớn, nó hứa hẹn nhiều bất tiện hơn là lợi. Vua Gia Long đã nghĩ tăng lãnh thổ bằng cách chiếm thêm cái đất buồn bã này. Năm 1826 ông đã long trọng cắm cờ và chính thức giữ chủ quyền  các hòn đảo đầy đá này mà không một ai tranh giành với ông"...

Gần như các nhà buôn, nhà tu, nhà thám hiểm phương Tây giai đoạn từ thế kỷ 16 đến 19 đều xác định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa là "của Hoàng đế An Nam" và "không ai tranh chấp".

Thực ra, kể cả các tài liệu của người Bồ Đào Nhà trước kia dù chưa khẳng định mạnh mẽ chủ quyền của vua Việt Nam tại quần đảo "đầy cát và đá" song cũng ghi nhận bóng dáng thuyền và người An Nam có mặt ở trên khai thác từ rất sớm...

Sóc Trăng: Đổi trắng thay đen, quyết liệt bảo vệ cán bộ sai phạm

Ông Kiệt cho ông Hiến mượn đất để ở nhưng khi làm sổ đỏ, ông Hiến đã lợi dụng chức vụ là cán bộ địa chính phường ký xác nhận cấp sổ đỏ cho vợ của mình. Vụ việc khiến người dân bức xúc nhưng vẫn chưa được ngành chức năng giải quyết thỏa đáng.

Theo tŲình bày của ông Lý Hán Kiệt (ngụ khóm Tâm Trung, phường 10, TP. Sóc Trăng, Sóc Trăng): Gia đình ông có phần đất thổ cư diện tích 630m2 tọa lạc tại địa chỉ trên. Phần đất này là của cha mẹ ông quản lý, sử dụng từ năm 1955 đến sau 1975 thì giao cho ông qŵản lý, sử dụng liên tục cho đến nay. 
 
Đất được UBND huyện Mỹ Xuyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/6/1993 (thời điểm đó, khóm TâmĠTrung thuộc xã Đại Tâm, huyện Mỹ Xuyên). Trên phần đất đó, ông cho ông Lý Sía Hiến (một người dân địa phương) cất một căn nhà để ở tạm trong thời gian chưa có đất làm nhà. 

Đến năm 2009, UBND TP Sóc Trăng đền bù giải tỏa mở rộng đường Trần Hưng Đạo. Ông Lý Sía Hiến (lúc này là cán bộ địa chính phường 10) cho rằng đất đó của vợ ông là bà Đỗ Thị Minh đứng tên sổ đỏ để nhận đền bù. Ông Kiệt làm đơn khiếu nại lên chính quyền địa phương yêu cầu làm rõ việc cấp sổ đỏ cho bà Minh chồng lấn lên đất của ông nhưng cho đến nay chưa được giải quyết.

Điều đáng nói, dù chưa giải quyết khiếu nại của ông Lý Hán Kiệt nhưng UBND TP Sóc Trăng vẫn cho bà Đỗ Thị Minh nhận tiền đền bù trên diện tích đất mà ông Kiệt đang khiếu nại với số tiền gần 185 triệu đồng. 

Ông Kiệt bức xúc: “Tôi khiếu nại yêu cầu xem lại trình tự cấp sổ đỏ cho bà Minh nhưng UBND TP Sóc Trăng vẫn làm ngơ, bao che cho hành vi sai trái của ông Hiến và các cán bộ có liên quanℝ. 

Đơn thư khiếu nại của ông Kiệt không được TP Sóc Trăng giải quyết, ông Kiệt khiếu nại đến UBND tỉnh, Sở TN-MT Sóc Trăng thì hai cơ quan này Ċcó văn bản hướng dẫn “thẩm quyền giải quyết thuộc UBND TP Sóc Trăng”.

Vụ việc sau đó được Thường vụ Thành ủy Sóc Trăng lên tiếng. Ông Mai Văn Lâm - Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Thành ủy Sóc Trăng cho biết, theo kết luận của Thanh tra TP Sóc Trăng, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Đỗ Thị Minh chưa đúng trình tự thủ tục, không khai rõ nguồn gốc đất và cung cấp thông tin không đúng sự thật việc sử dụng đất. Từ đó, ngày 25/7/2013, UBND TP Sóc Trăng ban hành quyết định thu hồi sổ đỏ của bà Đỗ Thị Minh. Thế nhưng, quyết định này chỉ triển khai cho bà Đỗ ThịĠMinh chứ không được triển khai cho ông Lý Hán Kiệt.

Ngày 25/6/2014, UBND TP Sóc Trăng triển khai quyết định số 10/QĐKN-CTUBND (ký ngày 19/6/20ı4) cho ông Lý Hán Kiệt với nội dung cho rằng đất của bà Đỗ Thị Minh ở từ năm 1980 đến nay nên bác yêu cầu của ông Lý Hán Kiệt.
 
Nhìn lại toàn bộ sự việc, chúng tôi nhận thấy: UBND TP Sóc Trăng đã có dᶥu hiệu bất nhất  và quyết liệt bảo vệ cán bộ sai phạm.

Cụ thể, đất ông Lý HánĠKiệt được UBND huyện Mỹ Xuyên cấp sổ đỏ ngày 26/6/1993, cho đến nay sổ đỏ đó vẫn chưa bị thu hồi, chưa có sự điều chỉnh nào. Trong khi đó, phía bà Đỗ Thị Minh (thực chất là do ông Lý Sía Hiến thực hiện) đã nhiều lần “tiền hậu bất nhất” trong việc khai Ůguồn gốc đất.
Thứ nhất, trong đơn xin cấp sổ đỏ cũng như biên bản xác minh nguồn gốc đất, bà Đỗ Thị Minh khai: “Trước năm 1975 đất hoang hóa, năm 1979, gia đình tôi khai phá và sử dụng ổn định cho đến nay”. 
Người xác nhận tờ khai là ông Hên Son (Chủ tịch UBND phường 10, cũng là em rể ông Hiến), không có chữ ký của cán bộ xác minh mà chỉ đề tên là Nguyễn Huy Cương. Còn phần xác nhận tứ cận, phᶧn đất của ông Hiến giáp nhà ông Kiệt, để tên ông Kiệt nhưng người ký xác nhận là bà Sết. Cán bộ địa chính xác nhận hồ sơ chính là ông Hiến. Sai phạm này đã được UBND TP Sóc Trăng kết luận nên thu hồi sổ đỏ của bà Minh ngày 25/7/2013.

Thứ hai, ngày 1/8/2013, tại cuộc họp triển khai quyết định thu hồi sổ đỏ của bà Đỗ Thị Minh, ông Lý Sía Hiến đi thay vợ và phát biểu (có ghi biên bản) “Đất này gũa đình tôi đã thực hiện trả hoa lợi xong theo Quyết định 217/QĐ-UBH ngày 24/10/1994 của UBND huyện Mỹ Xuyên và Quyết định số 69/QĐ.TTr.94  ngày 20/12/1994 của Chánh Thanh tra tỉnh Sóc Trăng”. Đối chiếu hồ sơ lưu, chúng tôi phát hiện 2 quyết định nêu trên không phải của bà Đỗ Thị Minh mà là của một người dân khác. 

Thứ ba, khi ông Kiệt khiếu nại, hòa gũải tại UBND phường 10, ông Hiến cho rằng đất của gia đình ông mua của bà Sơn Thị Sết, có tờ giấy mua bán đất giữa ông Hiến với bà Sơn Thị Sết, được UBND xã Đại Tâm ký ngày 25/8/1994. Tuy nhiên, tờ giấy viết tay đó không thể hiện rõ vị trí thửa đất mua Ċbán. Điều đáng lưu ý, người ký tờ giấy chuyển nhượng đó là ông Hên Son (Chủ tịch UBND phường 10, là em rể ông Hiến), còn cán bộ địa chính ký giấy chính là ông Lý Sía Hiến.

Thứ tư, theo Quyết định số 10/QĐKN-UBND ngày 19/6/2014, ông Lý Sía Hiến lại cho rằng đất đó ông mượn của bà Sơn Thị Sết.

Ông Nguyễn Tuấn Thành - Phó Chủ tịch UBND TP Sóc Trăng cho biết, ông Lý Sía Hiến khai sai nguồn gốc đất để được cấp sổ đỏ là sai nên đã thu hồi sổ đỏ và ông Hiến cũng bị k᷷ luật “cảnh cáo” về mặt chính quyền và về Đảng. Còn Thanh tra kết luận đất của gia đình ông Hiến sử dụng từ năm 1980 nên bác yêu cầu của ông Kiệt là đúng.

Theo xác nhận của UBND xã Đại Tâm vào năm 1994 cũng như xác nhận của cán bộ địa phương, diện tích đất nói trên là của cha mẹ ông Lý Hán Kiệt quản lý sử dụng từ năm 1955 đến 1975. Sau đó giao cho ông Kiệt quản lý, sử dụng cho đến khi xẩy ra Ŵranh chấp. Cũng theo người dân địa phương, đất đai ở khu vực này trước đây chưa có giá trị nên hễ ai có khó khăn về nơi ở thì bà con lối xóm với nhau nên cho ở tạm mà không cần loại giấy tờ nào, trong đó phần đất của gia đình ông Kiệt cũng vậy. Đất gốcĠlà của cha mẹ ông Kiệt, còn vợ chồng bà Minh - ông Hiến là người được ông Kiệt cho mượn cất nhà ở tạm.

Cho ở tạm, ở nhờ, từ lâu đời là tập quánĠđùm bọc lẫn nhau của người dân Nam Bộ, nhất là ở các vùng nông thôn. Những năm trước đây việc mượn đất ở là thường xuyên và khi có điều kiện người mượn trả lại đất với tình cảm trân trọng, biết ơn, có thể nói đó là nét văn hóa tốt đẹp rất cần được duy Ŵrì, song rất tiếc là khi đất đai trở nên có giá trị, bên cạnh việc áp dụng pháp luật chưa rõ, còn là sự lợi dụng để bội ước. Trường hợp trên đây, vợ chồng bà Minh - ông Hiến là người mượn đất của ông Kiệt nhưng lợi dụng chức vụ cán bộ địa chính và sự Ŵiếp tay của cán bộ có thẩm quyền ở phường 10 và TP Sóc Trăng, ông Hiến đã từ tay không mà chiếm được đất của gia đình ông Kiệt.

Với trường hợp Ǵng Lý Hán Kiệt là người được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ ngày 26/6/1993, còn bà Đỗ Thị Minh mượn đất của ông Kiệt nhưng khai gian nguồn gốc đất nhiều lần và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà cũng đã bị thu hồi. Vì vậy, đề nŧhị ngành chức năng tỉnh Sóc Trăng vào cuộc giải quyết vụ việc một cách đúng pháp luật và thấu tình đạt lý.

Xin nói thêm, ông Lý Sía Hiến là ngưᷝi đã hai lần bị kỷ luật vì có nhiều sai phạm trong việc lập hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho người này chồng lên đất của người khác. Trong đó, ngoài việc lập hồ sơ khống cho vợ mình đứng tên sổ đỏ trên đất mượn của ông Lý Hán Kiệt, ông Hiến cũng “nổi tiếng” khi xǡc nhận hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho một người đã định cư tại Hoa Kỳ năm 2002.

Cụ thể, năm 1992, ông Lâm Đức (ngụ phường 10, TP Sóc Trăng) trúng thầu ŭua mặt bằng cây xăng ngã ba Trà Tim của UBND huyện Mỹ Xuyên. Ngày 22/5/1992, UBND huyện Mỹ Xuyên giao cho ông 3.350m2 đất, sau đó ông được cấp sổ đỏ vào ngày 15/9/1994.

Năm 1996, khu vực cây xăng được cắt chuyển về phường 10, thị xã (nay là thành phố) Sóc Trăng. Tới năm 2001, ông Lâm Hồng Thôn (ngụ ấp Hòa Khanh, xã Thạnh Quới, huyện Mỹ Xuyên) làm đơn khiếu nại gửi chính quyền địa phương đòi lᶡi phần đất 533,6m2 trong diện tích đất mà ông Lâm Đức đã mua của UBND huyện Mỹ Xuyên vì ông cho rằng ông Đức chiếm đất của ông.

Trong việc giải quyết tranh chấp, chính quyền phường 10 buộc ông Đức không được làm gì trên phần đất đó. Bức xúc trước sự việc vô lý như vậy, ông Đức khởi kiện ra TAND thị xã Sóc Trăng nhưng TAND thị xã Sóc Trăng không xử được bởi nhiều lần mời nhưng ông Thôn không đến tòa.

Qua thẩm tra xác minh tại cơ quan quản lý xuất nhập cảnh Công Ċan Sóc Trăng, Tòa án biết ông Lâm Hồng Thôn đã xuất cảnh định cư tại Hoa Kỳ ngày 21/12/2002. Vì ông Thôn không còn ở Việt Nam nên TAND TX Sóc Trăng cũng như TAND tỉnh Sóc Trăng ra quyết định đình chỉ vụ án. Thế nhưng ngày 18/3/2003, Chủ tịch UBND TX Sóţ Trăng vẫn ký cấp sổ đỏ cho ông Thôn phần diện tích 533,6m2 đất nói trên. Người phụ trách địa chính phường 10 xác nhận hồ sơ không ai khác chính là ông Lý Sía Hiến.

Điều ngạc nhiên hơn là trong đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của ông Lâm Hồng Thôn gửi UBND tỉnh Sóc Trăng (chứ không gửi UBND TX Sóc Trăng) lại không hề ghi ngày tháng xin đăng ký, còn phần xác nhận của UBND phường 10 do ông HêŮ Son (em rể ông Lý Sía Hiến, Chủ tịch phường 10) ký lại ghi ngày 20/1/2003, tức là sau khi ông Lâm Hồng Thôn đã ở Hoa Kỳ và cũng trong ngày đó được Phòng Địa chính TX Sóc Trăng ký xác nhận. Không chỉ vậy, dù đã ở Hoa Kỳ nhưng ngày 13/11/2003, ông Lâm Hᷓng Thôn lại chuyển nhượng diện tích đất nói trên cho ông Hồ Minh Hà (ngụ tại 17/3, đường Bùi Hữu Nghĩa, quận Bình Thủy, TP Cần Thơ), được UBND phường 10, Phòng Địa chính - Nhà đất TX Sóc Trăng xác nhận.